[Chiêu Hề Cựu Thảo] – Chương 2

[Chiêu Hề Cựu Thảo] – Chương 2

[Chiêu Hề Cựu Thảo]

Tác giả: Thư Hải Thương Sinh

Chương 2: Hề Sơn cuốn · Thúy thân

[NGUYÊN]

Người xanh phỉ thúy, hậu tộc như nhau. Mỹ mạo thích thúy y, ngoại trừ chủ mẫu, còn lại là nam, nhiều vợ đông con, cả đời không đổi. Sống ở Hề Sơn, bản tính thông minh, tính ưa trộm vặt.

–[ Dị nhân tập · quyển bốn · Thái sử soạn ]

Không biết đây là đâu, nhưng bốn phía xung quanh chốn này âm u, sương kết lạnh lẽo. Bốn vách tường chẳng chút ánh sáng, chỉ cảm thấy có gió từ đâu thổi đến .

Thiếu niên mặc bạch y toàn thân vừa phạm sát nghiệp, rốt cuộc cũng được ngủ một giấc an lành. Nỗi đau như bị kim châm khi Tước vương áp chế cứ phát tác vào giữa đêm, lúc trăng treo đầu ngõ. Sự yên tĩnh không còn là gia vị tốt nhất cho giấc ngủ mà trở thành một tình cảnh tuyệt vọng, kêu trời không được gọi đất chẳng xong, bắt buộc chấp nhận tình cảnh khổ ngục này.

Mỗi lần mở to hai mắt, chàng đưa mắt nhìn về phía chân trời, là nơi trăng sao sáng tỏa. Nhìn chúng rực rỡ và lộ liễu như thế, khiến tiểu công tử đang hao tâm tổn sức chạy trốn phải cười khổ.

Mộng đẹp là khi thấy cơm ngon áo đẹp, được thích gì làm đó, nhưng đối với Phù Tô thì một mảnh trống rỗng, ngược lại là thứ có ích nhất.

Chàng đã tỉnh, thấy bên cạnh có một người đang dán sát.

Trong bóng tối, hai tay của người nọ đang đặt trên hông chàng. Đang ngủ say thế nhưng cánh tay gầy nhom ấy lại cái chốt cứng không thể gạt đi, cắm rễ thật chặt.

Chàng đang suy nghĩ đây là ai thì người nọ từ từ mở mắt, mang theo ý cười, rút hai tay về, ngồi thẳng người dậy, huơ cánh tay áo, cả phòng bừng sáng.

háo sắc trèo tường hôm đó, dựa vào một tờ hôn ước, nhất định không chịu buông tay.

“Công tử tỉnh rồi?”

Đây là một căn phòng bằng đá, lạnh lẽo âm u. Ngoài trừ cái giường bằng đá thì trong căn phòng trống rỗng đó chỉ mỗi một cái rương gỗ lớn màu đỏ sậm, mạng nhện phủ dày như kén tằm.

Trong ánh sáng mờ ảo, tên háo sắc kia nở nụ cười. Nàng quan sát mặt chàng, nói: “Nhìn tốt hơn rồi đó. Có muốn ăn gì không?”

Phù Tô rời khỏi cái giường đá, suy nghĩ một lát rồi mới chỉnh đốn y phục, thi lễ nói: “Mấy ngày qua đã làm phiền Hề Sơn quân chăm sóc cho.”

Tên háo sắc Hề Sơn vốn định vươn tay nắm tay chàng, mãi lúc sau mới lấy lại tinh thần, gật gật cái trán có một chấm màu đỏ, cười nói: “Sao lại có thể không chăm sóc cho chàng được? Phải nuôi cho lớn thì mới có thể mang ra nấu, mới ăn thịt húp canh được chứ.”

Phù Tô sửng sốt, mãi lúc sau mới cười nhạt nói: “Có thể được Sơn Quân ăn hết, đó là vinh hạnh của Cô (*).”

(*) Cô – Cách tự xưng của vua chúa – tương tự với trẫm 

Hề Sơn quân đẩy táng đá ngoài cổng ra, không ngờ bên ngoài là mảnh núi non bạt ngàn. Nàng chắp tay, khẽ siết chặt bàn tay vừa dịu dàng vỗ về chàng, đôi mắt đầy vẻ mệt mỏi, ngập tia máu. Nàng ngáp dài nói: “Chàng là Cô nào? Ở đây chỉ có một mình ta là Quân, công tử nên sửa lại cái thói tự xưng như vậy đi.”

Núi này chính là Hề Sơn mà ngày đó Trịnh Kỳ tìm mãi không ra.

Phù Tô nhìn quang cảnh xung quanh, khẽ ngạc nhiên.

Từ khi chàng dứt sữa, hoặc có thể là lúc bắt đầu ăn cháo, có khi sớm hơn, từ lúc bắt đầu cầm sách đã mơ thấy đủ loại sông núi. Sau khi tỉnh lại vẫn sẽ nhớ hình dạng bọn chúng rõ ràng, thế nên cầm bút cẩn thận vẽ lại, để những người thợ, những hoạn quan có kiến thức hoặc những quan viên chuyên vẽ bản đồ trong cung xem, không ngờ những dãy núi đó lại có thật, được đọc tên đàng hoàng. Tổ phụ chàng, Chân Tông, rất ngạc nhiên, mãi đến khi có lần vô tình mơ thấy núi Đại Tông Thái Sơn, thấy chàng vẫn vẽ ra được như trước thì Tổ hoàng mới hoàn toàn hạ quyết tâm, lập cha chàng làm Thái tử Bách quốc.

Trong mộng, thật ra chàng hoàn toàn không phải vì muốn giúp phụ hoàng mà mơ đến núi sông. Chàng chỉ đang tìm một cái gì đó, nhưng mãi vẫn chưa tìm ra. Đến khi mười mấy tuổi, chàng mơ thấy một ngọn núi xanh tầm thường với vô vàn kì hoa dị thảo, lúc này mộng mới dừng.

Chẳng ai biết ngọn núi kia ở đâu, khiến cho nỗi canh cánh này mãi không được giải quyết, trở thành bức tranh sơn thủy được treo trong thư phòng điện Bình Cát. Nay điện Bình Cát đã cháy rụi, tranh kia tất chẳng còn.

Thế nhưng, ngọn núi trong mộng nay lại xuất hiện.

Nó là Hề Sơn.

Những khi chàng đọc sách mệt rồi, nhắm mắt dưỡng thần thường nghĩ tới từng đóa hoa bụi cỏ như đã quen biết từ lâu. Nay Hề Sơn trước mắt, hoàn toàn tựa trong mộng, khiến người phải ngạc nhiên.

Phù Tô cũng tin vào tờ hôn ước kia. Tuy không hiểu tại sao Thái tổ Hoàng đế lại quyết định hôn ước cho cháu mình với một yêu quái chẳng biết thuộc giống loài gì, nhưng trong giấc mộng tìm núi xưa kia, khi  mơ được thấy Hề Sơn thì lại chấm dứt hẳn, ắt cũng do ý trời.

Phù Tô quyết định không màng thế sự, chẳng tìm nguyên nhân.

Căn phòng đá nằm ngay sườn núi, ngửa đầu là có thể nhìn thấy tuyết trắng trên đỉnh. Bao năm trời vẫn không hề thay đổi, giống như người trẻ bạc tóc.

Dọc đường đi, có thể nhìn thấy vô số tảng đá màu xanh phí thúy, đậm nhạt khác nhau, mặt trời vừa chiếu xuống thì sẽ xuất hiện những hoa văn như tảo biển, trong suốt lóng lánh, trông cực kì lạ mắt.

Phù Tô cúi người, xoa xoa hòn đá nhỏ một lúc lâu, con mắt đen thẫm nhìn chăm chú, tuy không cười nhưng cũng thầm cảm thấy cũng rất thú vị.

Phóng mắt nhìn về trước, một rừng quýt mênh mông.

Hiện đương tháng sáu, cành quýt rậm rạp, vẫn chưa có trái. Cây quýt tỏa ra hương the mát thoang thoảng, lá nhỏ hơn, tròn hơn những loại cam quýt phương bắc thường gặp.

Hình như không ngọt lắm. Phù Tô nhớ một trang sách trong [Vân nông thuật] có ghi: “Nếu rễ quýt sâu, lá dày, hình dạng giống quạt hương bồ (*). Rễ sâu lá dày vỏ quýt màu cam thì ngọt. Còn ngược lại sẽ chát, không thích hợp để ăn.”

(*) Quạt hương bồ – cũng tương tự dáng lá bồ đề

Đột nhiên đang đi thì bị vấp phải gì đó dưới chân.

Cúi đầu, là một đứa bé miệng rộng chỉ bằng bàn tay. Mắt xếch mày mỏng, hai búi tóc đen nhánh bóng nhẫy, khuôn mặt nhỏ thó, xảo quyệt tai quái. Nó đi đứng cứng ngắc, không xoay không rẽ được, đâm sầm vào Phù Tô.

“Là mi!” Thằng bé cứng người chống nạnh, từ từ ngẩng đầu lên, tức tối kêu gào, “Mi hại tau! Hồng nhan họa thủy, buông lời gièm pha, biến thánh minh quân chủ của tau thành Thương Trụ Chu U (*), á à, chịu một cú đấm của tau đi!”

(*) Ý chỉ Trụ vương say đắm Đát Kỷ mà mất nhà Thương; Chu U vì mê Bao Tự mà mất nhà Tây Chu.

Tiểu đồng tử từ từ giơ quả đấm nhỏ cứng ngắc lên, trông như cái bồ cào, hung dữ đấm một cú vào cái áo bào trắng của Phù Tô,

Phù Tô cúi đầu, đột nhiên trong miệng thằng bé miệng rộng phun ra một cái hột hạch đào. Thiếu niên không nhịn được, lấy tay áo xanh che mặt, hai mắt thong thả lộ ra ý cười nhàn nhạt. Thằng bé đỏ mặt, cả giận nói: “Vô lễ vô lễ, càn rỡ càn rỡ! Biết ta là ai không, một Thái tử nho nhỏ trần gian mà dám giễu cợt, đợi tau giết cái ngữ họa thủy như mi xong, sẽ lấy cái chết can gián Quân của tau!”

Nói xong, trong miệng lại từ từ… phun ra một cái hột hạch đào.

Phù Tô không nhịn được, xoay người, phải cố gắng kiềm chế rất lâu mới bật cười.

Thế là thằng bé kia òa khóc, “Không ngờ Kiều A Trứ ta đây lại bị một gã người phàm hèn mọn khi dễ đến bực này, chỉ còn nước đập đầu vào đá thôi!”

Khóc xong, cái miệng rộng lại phun một hột hạch đào ra, sau đó lao vào tảng đá màu xanh phỉ thúy, thế nhưng lại bị nhào hụt.

Trên đường Phù Tô tới đây có nhìn thấy những tảng đá màu xanh đó, bây giờ lại được bao phủ trong làn khói trắng. Một lát sau, khói tan, một đám thiếu niên mặc lục y thúy bảo bước ra, trắng trẻo xinh đẹp, trông rất ấn tượng. Trên đường đi nói cười ầm ĩ, bước về phía hai Phù Tô và thằng bé con.

Tảng đá mà thằng bé hồi nãy muốn tông vào cũng chìm trong khói trắng, biến thành một mỹ thiếu niên với lúm đồng tiền trên môi, sau khi hiện thân, cậu duỗi người, cười nói: “A Trứ, nếu ngươi ngày nào cũng vạ miệng đắc tội Quân phụ, bọn ta sợ gì không có quà vặt ăn?”

Nói xong, luộm một hột hạch đào rơi trên đất, ném vào miệng, nghênh ngang bỏ đi.

Những mỹ thiếu nam biến ra từ đá cũng đi về phía Phù Tô, ngữ điệu không mặn không nhạt.

“Ồ, trông cũng không tệ, có điều thua ta một chút.”

“Vất vả cho chúng ta ngồi phơi nắng ở đây chờ hắn lâu ơi là lâu.”

“Quân phụ mà cũng không cho xem, bạo quân này thiệt là, chậc chậc!”

“Ban nãy cha lại bị mẹ đánh một trận, vừa chạy đi tìm Quân phụ khóc lóc rồi. Đúng là tính xấu không đổi, bạo quân hay thiếu kiên nhẫn khi nhìn yêu khóc lóc lắm.”

“Hôm nay thời tiết đẹp này, nắng to đấy.”

“Hai Nhăm, Hai Sáu đuổi theo mau!”

Mấy đứa đi ở cuối không phải là mỹ thiếu niên mà là hai con khỉ xinh đẹp. Khuôn mặt nhỏ như quả đào, mắt tựa hồ nước, đen nhánh thơ ngây, lông toàn thân xanh phỉ thúy, mềm mại, rạng ngời. Yrông tụi nó như vừa sực tỉnh khỏi mộng.

Con khỉ con được gọi là Hai Sáu vừa ra đời, một đứa khác lớn hơn một chút xấu hổ nhìn Phù Tô, thò cái đầu nhỏ đầy lông tơ, lí nhí hỏi: “Quân phụ phu nhân, tay của người vừa ấm lại vừa mềm. Con thích người sờ con, người có thể sờ thêm cái nữa không?”

d***

Ngay chính giữa núi có một cái nhà ăn, giống như căn nhà của nông dân, lót cỏ tranh rất dày, nhưng nhìn vẫn rất đơn sơ. Trước gian nhà có vây một hàng giậu, giữa hàng giậu có vài ba con gà nhép và một con vịt đực lớn đang đi qua đi lại.

Phù Tô đứng đó một lúc lâu, nhìn đàn gà.

“Công tử đang nhìn gì đó?”

“Suỵt, ta đang đợi tụi nó nói chuyện. Ngay cả đá trên núi này cũng nói chuyện được cơ mà.”

Chàng thiếu niên như ngọc xoay người, bắt gặp đôi mắt cười cong cong.

Bấy giờ Hề Sơn quân không có vẻ lưu manh, cũng chẳng thô bạo, chỉ đang nhìn chàng vậy thôi. Đầu ngón trỏ của nàng tỏa ánh lửa, chỉ vào con gà con ở xa, giọng nói hơi khàn khàn: “Được, vậy để xem tụi nó nói gì.”

Thế là con gà nhép lập tức nói muốn ăn cơm, một con khác than cả ngày chỉ được ăn thóc lép, chẳng đủ no. Con vịt đực cạp cạp làu bàu: “Ta kiếm ăn ở nhân gian, nhà mà có nhiều tiệc tùng, lần nào cũng dư rất nhiều thịt cá củ quả, lúc đó sẽ cho tụi ta tất. Người ta nói ở hiền gặp lành, làm thiện dư ăn. Yêu quái trên núi này đói khổ như vậy, chắc chắn là đã làm chuyện gì thất đức lắm.”

Hề Sơn quân chùi mũi, phất ống tay áo. Nàng đi về trước, nghiêng đầu cười nói: “Ngay cả con vịt cũng biết ta không tốt, đúng là chẳng có chuyện gì che mắt được ông trời. Chắc là ta đã làm quá nhiều chuyện thất đức thiệt rồi.”

Phù Tô dừng chân, nhìn căn nhà, giọng nhàn nhạt: “Sơn quân làm chuyện thất đức thì chỉ bị báo ứng lên vật ngoài thân, là chuyện cơm áo gạo tiền. Còn ta lại chẳng biết mình đã làm cái gì để nhận báo ứng, bị cắm ba cây châm độc trong đầu thế này.”

Chàng lại hỏi: “Ta còn có thể sống được mấy ngày?”

Hề Sơn quân xoay người cười nói: “Thế chàng có biết ta đã làm bao nhiêu chuyện xấu, tạo cái nghiệt gì mà bị ông trời trừng phạt, khiến cho vạn vật ở Hề Sơn đều sinh trưởng, chỉ mỗi lương thực bất sinh; Dưới đất toàn đá quý, thế nhưng lại đều tu thành tinh, không thể mang đi cầm để đổi lương mà ngược lại phải nghe chúng kêu gào đòi ăn?”

“Xin lắng tai nghe.”

Hề Sơn quân ngồi lên một tảng đá màu xanh phỉ thúy không tì vết, trong suốt đẹp cực kì, nếu bán ngoài chợ thì hẳn mang giá trị liên thành. Nàng mặc áo tang, mỉm cười nói: “Hai trăm tám mươi năm trước, lương thực và châu báu mang từ nhà theo đã dùng hết, trồng trọt không thu được nhiều, ta bắt đầu kéo quân đi giết người cướp của trước núi. Mỗi lần giết một người, đổi được hai ba đợt gạo tiền thì lại bóc một miếng vỏ cây để ghi nhớ số người chết. Trong vòng năm mươi năm ngắn ngủi, hơn nửa số cây trên núi Hề Sơn không có vỏ nữa. Sau đó dưới chân núi Hề Sơn không một dấu chân người, còn ta đi đâu cũng bị sét đánh. Trốn trong căn phòng đá thì sét không vào được, bắt đầu nhằm vào những yêu quái trong núi. Thế là ta đành phải bước ra, chịu đựng cho sét đánh. Chuyện cũng tầm trăm năm, đau đớn ta khiến ta cũng không muốn nhắc lại, mỗi lần sắc trời u ám, ta lại giống chàng hôm nay, tự hỏi mình còn có thể sống được bao ngày?”

“Sau đó thì sao?”

“Sau đó, sét không đánh ta nữa, ông trời bắt đầu trêu chọc Hề Sơn. Cây quýt trước đây luôn cho trái ngọt, nay trong vòng một đêm chỉ toàn quả đắng, cả một ruộng nước ta vất vả khai khẩn giờ chỉ kết ra muối, không có nổi một hạt thóc. Những cánh đồng trồng lương nay chỉ toàn hoa tươi dị thảo mọc ngút ngàn. Đó là một cảnh mỹ lệ mà chưa từng gặp, chưa ai từng thấy.”

“Ta đã thấy.” Phù Tô cắt ngang lời nàng.

Hề Sơn quân nói: “Ở đâu? Trong mộng? Nhưng những hoa cỏ đó đều là thứ kịch độc, không thể ăn cũng không thể dùng, chỉ có thể giương mắt nhìn chúng đua nở, chiếm đất quanh năm, chỉ khi vào đông tuyết rơi thì mới thôi.”

Tóc mai của Phù Tô gọn gàng, căng chặt, búi hết về phía ngọc quan. Mặt trời vừa ghé qua khiến gò má của chàng công tử trong suốt như ngọc. Chàng im lặng lắng nghe, Hề Sơn quân cười nói: “Ta làm nhiều chuyện thất đức như vậy, gặp nhiều báo ứng như thế, nhưng này, công tử đoán xem ta đã sống bao lâu rồi?”

Phù Tô mím môi, hờ hững nói: “Sét đánh không chết cháy, trời bỏ không chết đói, chẳng bị ai cắm châm, không cha đóng quan tài, mệnh Sơn quân thật tốt.”

Hề Sơn quân chống tay trái sau lưng, giơ ba ngón tay phải ra, cười nói: “Bản quân sống ba trăm mười sáu năm rồi. Nếu công tử muốn sống thêm mấy ngày thì chỉ cần hôn ta một cái, được dính chút thọ nguyên của yêu tinh ta là được.”

Phù Tô khẽ khựng lại trong khoảnh khắc, sau đó nhẹ nhàng đi tới, cúi đầu, nâng mặt Hề Sơn quân, mãi lâu sau mới thấp giọng nói: “Nam nữ thụ thụ bất thân, Sơn quân ép ta cưới đấy à?” Chàng nở nụ cười, lông mày nhàn nhạt, ánh mắt thản nhiên, chẳng thấy có gì là bối rối vì ‘nam nữ thụ thụ bất thân’ cả. Chàng hướng về trán yêu quái, nhẹ nhàng in một dấu môi khô ráo lạnh lẽo lên, nghiêm túc hỏi: “Thế này thì ta có thể sống được thêm mấy ngày?”

Hề Sơn quân ậm ờ ơ một tiếng, mãi mà không nói. Sau đó nàng hắng giọng, chắp tay thong thả bước chân chữ bát đi về nhà ăn, “Các con, dọn cơm.”

Phù Tô thấy có rất người người mặc áo xanh, nhiều con khỉ lông xanh đang từ trong nhà ăn nhìn ra, khiến người ta hoa hết cả mắt. Ban nãy có nghe Hề Sơn quân nói, cả người lẫn khỉ này đều biến hóa từ những viên đá có giá trị liên thành kia.

Từ nhỏ, đồ chàng ăn được dọn trong phòng, một mình một tiệc, cho dù cung điện to thế nào, dẫu có bao nhiêu cung nhân, mặc kệ ngoài trời đang hoa bay hay tuyết thổi. Những người theo hầu như không biết nói, khi chim kêu, khi hoa rơi, âm thanh khe khẽ đó ngược lại như đang ngỏ lời chào với chàng Thái tử cao cao tại thượng.

Trước bảy tuổi, có mẫu thân hay huyên thuyên không nghỉ, chàng vốn thích yên tĩnh, nhìn bà, chỉ cười nhẹ không đáp, trong lòng cảm thấy mẫu thân thật ồn ào. Sau bảy tuổi, nam nữ không cùng bàn, ngoại trừ nói chuyện với Thái phó và phụ thân thì chàng gần như không cần phải mở miệng.

Hề Sơn là một nơi cằn cỗi đến hoang đường, trên bàn bàn cơm ở đây, ngoài cốc lương thô sạn thì chỉ chút rau dưa khô quắc. Nhưng mà dù ngồi bên cạnh một đám yêu quái, dù bọn chúng đang tò mò nhìn chàng, dù tất cả những tiếng mà chúng tự cho là xì xào bàn tán thật ra là âm thanh bình luận xoi mói rất lớn chui vào tai chàng thì Phù Tô vẫn bình tĩnh ăn một chén lớn thô lương.

Phù Tô đói bụng. Cảm giác đói khát như con suối đột nhiên phun trào, trong hoảng loạn mang theo cả sự giải thoát.

“Quân phụ, Thái tử nhân gian cũng ăn cơm thế này à!” Hai Nhăm ngồi trên đài cao bên cạnh Hề Sơn quân, còn nhỏ mà tướng ăn thô lỗ xấu xí. Hề Sơn quân thường kể cho nó nghe về những chuyện ngày xưa trên nhân gian, thế nên trong đầu nó, quý tộc nhân gian thì phải lịch sự nhã nhặn, không bao giờ để mất hình ảnh.

“Nhưng mà chàng không có vãi gạo ra bàn đâu.” Hề Sơn quân nhíu mày, nhặt một hạt cơm bên cạnh chén của Hai Nhăm.

Cha mẹ của Hai Nhăm là Thúy Nguyên và Tam nương được nàng phái xuống nhân gian mua đồ, phải một hai ngày nữa mới về, vì thế buổi tối nàng phải chăm sóc hai thằng nhãi Hai Nhăm, Hai Sáu. Hai Sáu chỉ vừa biết đi, bây giờ đang được Hề Sơn quân đút từng muỗng cơm, hai mắt tò mò nhìn chằm chằm công tử áo trắng ngồi một góc dưới đài.

“Ứ ứ!” Hai Sáu kích động chỉ vào Phù Tô mà kêu.

Hề Sơn quân khẽ cau mày, nhìn theo hướng móng khỉ con đang chỉ thì mới nhận ra Phù Tô đặt đũa ngồi im, nhìn chăm chú vào cái chén gốm thô thiển, hình như hai gò má ửng hồng.

“Công tử, thế nào? Cơm nước không hợp khẩu vị à?” Giọng của Hề Sơn quân không lớn, vừa hỏi thì nguyên căn phòng đang ồn ào lao xao đột nhiên im phăng phắc.

Bạo quân ở Hề Sơn, uy phong bao lâu nay. Nàng mà mở miệng nói thì lũ yêu bên cạnh sẽ không chen vào.

Phù Tô nhìn cái chén mà không biết làm sao, mãi lâu sau mới mím môi nói: “Cô… không ăn thịt người.”

Trong chén có một đứa nhỏ, chỉ tầm ngón tay, bị hấp hơi nóng nên cả người đỏ nhừ, hai búi tóc tròn tròn, là thằng nhỏ phun hạch đào, tên A Trứ.

Chàng thiếu niên dùng ngón tay như ngọc trắng khẩy khẩy, nháy mắt, thằng bé kia ôm chặt đầu ngón tay của Phù Tô, quay về phía trên bái lạy một cái, khóc lóc kể lể: “Sơn quân, tiểu nhân hại con, xích mích với con, để trút căm phẫn, muốn nuốt sống con!”

Hề Sơn quân bỏ Hai Sáu xuống, con khỉ nhỏ nhảy tót qua bên cạnh.

Nàng đi tới bên cạnh, bàn tay tái nhợt duỗi ra, thế là đứa bé nhảy từ đầu ngón tay của Phù Tô vào lòng bàn tay nàng.

Ba Sáu, con cháu của Thúy gia, phụ trách trong nhà ăn quỳ xuống nói: “Quân phụ tha mạng, con nhất thời sơ ý, không biết A Trứ ở trong thùng gạo, nấu nhầm nó.”

Thằng nhỏ há to miệng, ôm lấy ngón tay của Hề Sơn quân, khóc lóc phản đối: “Nếu mà người không phạt Ba Sáu và tên tiểu Thái tử kia, con sẽ đập đầu xuống đất!”

Hề Sơn quân hừ lạnh: “Xảo biện gian trá, nói lời xúi giục, ỷ sủng sanh sự, hôm nay lúc ta phạt con thành người hạch đào thì nói như thế nào, nếu có ý xấu, hãm hại người khác thì chân thân sẽ càng ngày càng nhỏ.”

Hề Sơn quân hiểu hết, biết thằng nhỏ này cố tình trốn trong chén cơm nóng, ý chí kiên định, cực kì kiên nhẫn, chỉ đợi đến khi Phù Tô múc nó vào miệng là nhảy ra hãm hại.

Vừa dứt lời, cả người A Trứ bị thu nhỏ lại, chỉ cỡ chừng hạt gạo, rơi nước mắt lộp bộp vào lòng bàn tay đầy vết chai mỏng của Hề Sơn quân. Giọng của nó cao vút: “Người đúng là bạo quân, con sẽ làm gian thần, trước nay luôn định sẵn. Nay Tướng công đã tới, người lập tức thay đổi, thay đổi thì không sai, con lại sai chỗ nào?”

Hề Sơn quân nổi giận, “Hễ mở miệng là đổi trắng thay đen, tráo trở lật lọng, học ở đâu ra hả?”

A Trứ nắm chặt tay, run rẩy nói: “Là hắn dạy, tất cả đều do hắn dạy! Những gì con nói đều là hắn dạy hết, nếu người không thích thì hỏi hắn tại sao lại dạy con! Quanh năm suốt tháng con không ra khỏi nhà, không rõ hắn có bộ dạng thế nào thì cũng biết đó là một công tử khôn ngoan tuyệt đỉnh. Người ở cạnh hắn ngày ngày, giờ thì hay rồi, đòi gả cho người khác, lại còn là kẻ bản tính vô sỉ, vong ơn phụ bạc, vô tình vô nghĩa!”

Chúng yêu nghe thế thì đều biến sắc, lập tức quỳ xuống ào ào cùng hô: “Từ nhỏ A Trứ đã vậy, không biết giữ mồm, Sơn quân nguôi giận.”

Mặt mày Hề Sơn quân như quỷ bị lao, không có chút khí thế nào, thế nhưng khí tức quanh thân đều lộ ra vẻ sắp bùng nổ. Phù Tô nhìn nàng một lúc lâu, suy nghĩ rồi nói: “Nàng ước hẹn với ta, lại từng thề hẹn với người khác, như vậy không thích hợp.”

Hề Sơn quân lẳng lặng nhìn chàng một lúc lâu, hai tay siết chặt, mãi lâu sau mới búng ngón tay, A Trứ lập tức biến thành một đứa nhỏ cỡ ba thước, khóc sướt ma sướt mướt những vẫn cứng đầu không chịu nhượng bộ.

Nàng cố kiềm cơn giận, xoay đi, khom người đưa tay nhẹ giọng nói: “Hai Sáu, tới đây.”

Hai Sáu kêu chít chít, hai mắt long lanh, hình như vừa bị Quân phụ luôn ôn tồn với mình dọa sợ, cứ trốn đằng sau Hai Nhăm, không chịu đi. Mặt Hề Sơn quân lạnh như băng, đôi mắt thâm quầng hơi dọa người, nàng đưa tay trái lên, nắm thật chặt, tất cả cơm trong nhà ăn lập tức bị văng xuống đất bùn, một tiếng rầm thật lớn, toàn bộ đều mất sạch.

Nàng cười lạnh một tiếng, nghênh ngang bỏ đi, “Nếu không muốn ăn cơm yên lành, vậy đừng ai ăn nữa.”

Cả một buổi chiều không thấy bóng dáng Hề Sơn quân đâu, đến bữa tối, lúc chúng yêu thấp thỏm không yên thì nàng lại xuất hiện, vẻ mặt vẫn bình thường, một thân áo tang, ngồi trên đài cao.

Có mấy thiếu niên mặc thúy y ôm sổ sách để báo cáo gì đó cho nàng, sau khi giải quyết xong chính sự, lũ yêu vẫn cúi đầu cung kính chờ đợi, không nói một lời.

“Con sai rồi.” Đứa bé A Trứ thút thít bước tới.

Hề Sơn quân nhìn tách trà xanh trước mặt vẫn còn âm ấm, cúi đầu sờ một cái mới nói: “Không ngờ đã trễ vậy rồi, khai tiệc đi.”

Có vài thiếu niên từ trong phòng bếp bưng nồi dọn chén bước ra, thở phào một hơi.

Nhưng mà rõ ràng trên chén có đường dán lại, Hề Sơn quân ôm trán, thở dài, “Mấy đứa chết hết rồi à? Lúc ta giận quá ném bát thì sao không khuyên một câu? Hễ giận là ném chén bát thì không phải cái tật gì hay ho, đã thế nhà chúng ta lại còn nghèo đến vậy.”

Hơi thở đang mắc nghẹn trong cuống họng của đám thiếu niên rốt cuộc cũng thả lỏng, cười đùa, “Chẳng phải à, Quân phụ cứ như bạo quân của mấy vở kịch đấy, hễ nổi giận là đập đồ!”

“Đúng đó, mấy Hoàng đế trong kịch đều đập đồ, không đập đồ thì không phải Hoàng đế tốt.”

“Quân phụ chỉ đập có mấy trăm cái bát, chứ Hoàng đế nhân gian mỗi lần giận đại thần thì toàn biết đập cái ngọc khí cũ xì, tính ra Quân phụ đúng là một bạo quân đặc biệt tốt tính.”

Hề Sơn quân cười, mắt cong cong.

Thì ra ở Hề Sơn, ‘Bạo quân’ là một từ để khen. Phù Tô sa sầm nhìn xung quang.

“Không sao đâu, chén bát không tốn tiền, Quân phụ, con có thể nung được!” Một thiếu niên tóc vàng cháy mặc áo lục nở nụ cười, nó là Ba Chín, phụ trách nung đồ gốm trong núi, mới hóa thành người được mấy năm, khá có thiên phú trong việc làm đồ gốm. Thiếu niên cười nói: “Người cứ việc ném, nhà chúng ta có nhiều bùn mà.”

Hề Sơn quân được khen đến mở cờ trong bụng, hắng giọng nói: “Ăn cơm thôi.”

Ở bên cạnh, A Trứ kéo tay áo của Hề Sơn quân, lí nhí: “Con sai rồi.”

Hề Sơn quân hừ một tiếng, “Nói xem con sai ở đâu thì mới cho con ăn.”

Trán A Trứ rịn mồ hôi, nó là người rất tự phụ, trước giờ đều chờ người trong thiên hạ nhận sai chứ nó không bao giờ xin lỗi, ai mà nói nó sai thì đó mới là kẻ có suy nghĩ sai trái nhất trên đời. Nó đảo mắt, sau đó hùng hồn nói: “Con nói thẳng thừng, sắc bén quá, đâm vào chỗ đau của người!”

Hề Sơn quân liếc nó, nói: “Con sai rồi, không phải sai ở việc nói bao nhiêu, sai ở chỗ lúc con nói lời hay, người khác nghe không hiểu; lúc con nói chuyện khó nghe, người ta lại hiểu.”

Giả vờ gia giáo, dạy con trở nên học rộng hiểu nhiều, tự do phóng khoáng, ý chí kiên cường, cả người hậm hực nhưng vẫn hùng hồn to giọng, vậy là muốn gây họa cho ai? Hay đã gây họa cho ai rồi?

***

Phù Tô cứ mãi suy nghĩ rốt cuộc tối nay mình sẽ ngủ ở đâu thì trời đã buông màn xuôi về đêm, trăng lên chiếu xuống khe núi. Hình như tất cả mọi người đã quên chàng rồi, khi chàng thong thả dùng bữa xong, trong nhà ăn cũng chỉ còn một mình chàng.

Gà vịt không kêu một tiếng. Chẳng biết tụi nó đang dùng ngôn ngữ chanh chua khiến người nghe phải đỏ mặt nào để nói chuyện với nhau, Phù Tô nhìn xung quanh, lạc đường thật rồi.

Chàng muốn quay lại căn phòng đá, nhưng nhìn quanh đều là ngã ba đường.

Nghe thấy có tiếng nghẹn ngào nức nở từ xa truyền tới, lúc cao xa, lúc trầm gần. Chàng thích đọc các tiểu thuyết về chuyện kì bí, cũng chả thấy sợ, chân thấp chân cao đi về phía bụi cỏ, mới phát hiện những người mặc áo lục, mấy con khỉ lông xanh cũng đã biến thành đá, nằm trong bụi cỏ, yên tĩnh an bình, như thể chưa từng có bộ dáng sống động như ban sáng.

Tựa như ngọn núi này trở thành núi hoang, vắng lặng tĩnh mịch.

Tiếng nức nở như biến thành giọng hát, mang theo vài phần thống khổ, cũng có mấy phần tang thương. Là giọng của nam giới.

Phù Tô đứng yên tại chỗ. Vùng hoang dã trống không, độc hoa tỏa hương thơm ngát. Gió thổi tới, phất phơ trên gương mặt chàng thiếu niên.

Như thể chàng đang trở về giấc mộng của rất nhiều năm về trước.

Khi đó cũng giống thế này.

Chàng trong mộng cũng bị lạc đường, bầu không khí xung quanh càng khiến cho cơn đau của chàng càng trở nên thống khổ. Vừa dừng một chút thì mắt đã tràn lệ.

Gió đêm thổi tới, mang theo cảm giác khoan khoái, mới hay đã vào hè.

Xa xa có một cây đèn màu quýt, đứng lặng lẽ trên con đường nhỏ.

Chàng vội vàng đi lên con đường này, hướng về phía ngọn đèn, khi vươn bàn tay như ngọc thì lại chạm phải một đoạn trúc trơn nhẵn. Người cầm đèn kết hình mạng nhện trong tay trái, chỉ chừa cho chàng một bóng lưng cao gầy đơn bạc.

Tay phải của người nọ siết chặt gậy trúc, siết thật chặt như không muốn lại làm mất vật này nữa, khàn giọng nói: “Đêm đen lối vắng, công tử, đừng… đừng lạc nữa.”

Là Hề Sơn Quân.

Nàng không chịu nắm tay chàng, hình như rất chán ghét. Nhưng nàng lại dùng sức để nắm chặt cây gậy trúc mà chàng đang nắm như vậy, lại khiến người khác không thể nói gì, chẳng biết nàng đang gìn giữ điều chi, quý trọng thứ gì. Tựa như nếu gậy trúc mà mất, hồn này cũng đứt đoạn.

***

Hề Sơn là một ngọn núi phải chịu báo ứng, chẳng thần linh buồn quan tâm. Tất cả yêu quái trên núi này đều là đá. Đá yêu lớn và đá yêu nhỏ cùng hấp thụ tinh hoa nhật nguyệt rồi biến hình, ban đầu thành khỉ con, trưởng thành sẽ làm người. Ngọn đá lớn nhất Hề Sơn là yêu quái Thúy Nguyên, vợ của hắn tên Tam nương, là người Hề Sơn quân mang từ nhà đến, gả làm vợ Thúy Nguyên. Hai vợ chồng cùng sinh được hai mươi sáu người con, con sinh cháu, cháu lại đẻ chắt, hơn ba trăm năm, ngoại trừ những đứa không có tư chất bị chết non thì có khoảng trên hai trăm đứa coqn sống. Hơn hai trăm yêu quái này kiếm được hơn một trăm cô vợ đã biến thành người, tính ra tất cả lớn nhỏ, trên Hề Sơn này có khoảng 383 con yêu.

Con cháu Thúy thị đều có màu xanh lục phỉ thúy, được nhận từ tổ phụ Thúy Nguyên. Điểm khác biệt là có màu xanh hơi đậm một chút, mê mị hút mắt, có màu xanh lại hơi nhạt một tẹo, tựa như biển hồ trong xanh.

Chúng đều rất đẹp, đẹp đến không biết là tiên hay yêu, không giống kẻ phàm tục.

Ngoại trừ tổ phụ Thúy Nguyên là một kẻ háo sắc thì tất cả con cháu Thúy thị đều một lòng si tình. Duyên số của chúng rất khác với trên trời hay nhân gian.

Yêu hay người thường đều phải chờ đến sau khi trưởng thành thì nghe theo lệnh cha mẹ, lời mai mối. Mà nói thẳng ra thì cũng vì không kiếm được một ai để nhất kiến chung tình, tái kiến khuynh tâm, tam kiến định hôn các thứ mà thôi. Nhưng con cháu Thúy thị từ nhỏ đã quyết đoán rồi, chúng tự chọn vợ, sau đó nuôi từ nhỏ.

Trời sinh tụi nó có một năng lực để khi nhặt viên đá linh tính nào đó, nếu có nhân duyên trong đời thì sẽ đeo lên cổ, hấp thụ linh khí trên người chúng một cách tự nhiên, sẽ càng ngày càng đẹp, còn nếu vô duyên thì ắt bị phản phệ, hút đến tận cùng, viên đá ấy khô héo mà chết.

Qua một thời gian trên cổ bọn chúng, viên đá đó sẽ biến thành khỉ, ít ngày sau khi hấp thụ tinh hoa nhật nguyệt sẽ hóa thành con gái. Đợi đến khi con cháu Thúy gia đã trưởng thành, vợ cũng được nuôi lớn thì đó cũng là ngày chúng thành thân

Quả là nhân duyên rất kì quái mà cũng cực kì thú vị.

Trên núi, lúc trời quang ấm áp thì thường sẽ thấy một thiếu niên dịu dàng ấm áp đang ngồi bắt rận chải lông cho một con khỉ cái. Tụi nó gắn bó, bầu bạn với nhau cả đời, lúc gặp nguy hiểm thì thê tử sẽ hóa thành nguyên hình, treo trên cổ phu quân, sống thì cùng sống, chết sẽ cùng chết, mãi không chia lìa.

Cuối cùng Phù Tô cũng quen dần với nơi đây, nhưng mãi mà không nhìn thấy tổ phụ Thúy Nguyên và bà mẫu Tam nương trong truyền thuyết. Bọn họ được phái đi mua đồ, vốn là hai ba ngày sau phải về rồi, nhưng hôm nay đã là ngày thứ bảy, thứ tám.

Hề Sơn quân bói thử một quẻ, vẻ mặt cổ quái, cười gượng vài tiếng, cất mai rùa vào trong tay áo, nói: “Không cần phải lo cho bọn họ, Tam nương nhỏ nhen, chưa phát tác, trong lòng được giải tỏa thì không chịu về đâu.”

Con cháu Thúy thị nghe thế thì đều cảm thấy xấu hổ cười trừ. Cha tụi nó ỷ mình anh tuấn nên thường có mấy chuyện gió trăng, nhưng thủ đoạn không cao minh, lại còn nhát gan thành ra hết lần này đến lần khác đều bị mẹ chúng phát hiện, hai người cãi nhau, khi mà chưa chết người ngã ngựa, quỷ khóc sói gào thì chưa chịu thôi.

Mười Bảy, Mười Tám, Mười Chín và A Trứ giúp Hề Sơn quân lo liệu việc của Phù Tô xong thì lập tức quay về chỗ Niên Thủy quân, ở Trừng Giang Xích Thủy để phục chức. Ai ngờ bốn người bọn nó vừa đi chưa bao lâu thì Niên Thủy Quân lại vội vàng dùng pháp thuật gọi mấy phương sĩ quay lại báo, có ôn dịch xuất hiện ở nhân gian, chớ nên xuống núi.

Lại bảy, tám ngày sau, vợ chồng Thúy Nguyên và Tam nương vẫn chưa về, Hề Sơn quân bốc quẻ, nhưng lại hoàn toàn không có tin tức. Nàng căn dặn mấy đứa khỉ con phải chăm sóc hai thằng nhãi Hai Nhăm, Hai Sáu, sau đó định một mình đi tìm.

“Cô đi cùng Sơn quân.” Phù Tô suy nghĩ một chút, sau đó cũng đứng dậy. Hai Nhăm, Hai Sáu cũng ngủ trong phòng đá với Phù Tô và Hề Sơn, thế nên khá ỷ lại hai người. Chúng thấy Hề Sơn quân muốn bỏ đi thì cũng buồn lắm, nay Phù Tô cũng rời đi thì một đứa ôm tay một đứa bám đùi, òa khóc nức nở.

Hề Sơn quân ngờ vực hỏi: “Chàng đi làm gì?”

Thật ra nàng muốn hỏi, Chàng đi thì làm được gì.

Phù Tô lạnh nhạt nói: “Đại Chiêu có tục, nữ tử giả trang rời khỏi nhà, nếu không có huynh trưởng hay hôn phu đi cùng, nếu bị nhận ra sẽ bị thóa mạ coi khinh.”

Chúng yêu nhìn Sơn quân thô lỗ tàn bạo luôn mặc nam trang của mình, từ trước tới nay chưa từng có gì dính dáng với ‘Nữ tử cần huynh trưởng hoặc hôn phu bảo vệ’, không kiềm được mà phì cười thành tiếng.

Trái tim Hề Sơn quân khẽ khựng lại, chậm rãi nói: “Lúc ngươi chưa đến, ta sống ba trăm năm có lẻ, số lần một lần rời núi đếm không hết.”

Phù Tô đứng bên cạnh nàng, trầm mặc hồi lâu mới nói, “Trừ phi nàng thiêu hủy hôn ước, hoặc để ta đi một mình, còn không có ta thì không được xuống nhân gian một mình.”

Chàng suy nghĩ, như một đứa trẻ bướng bỉnh hù đọa một đứa bé khác, mở to con ngươi màu đen, mặt không cảm xúc nói: “Người ở đó xấu xa, bắt được yêu nữ sẽ xử lý, làm thịt nàng. Có khi còn lột da, đưa lên lửa để nướng, nàng có sợ không?”

Hề Sơn quân kiềm nén vất vả quá, nàng muốn nói bà đây hành nghề lâu năm, lột da quay thịt ăn cũng làm rồi, ta là một con đại yêu quái cực kì hung ác đó. Nhưng lời ra tới miệng thì lại biến thành nụ cười mỉm, chầm chậm nói, “Sợ, sợ lắm!”

***

Phù Tô và Hề Sơn quân giả trang thành huynh đệ, ăn gió nằm sương, đi thẳng tới Tả trấn, nơi nằm gần Hề Sơn nhất.

Buổi tối, chứng đau đầu của Phù Tô lại tái phát, chàng dùng yêu pháp để áp chế, nhưng cũng chỉ khắc chế được một lúc thôi. Xuống núi, đến nhân gian, người càng lúc càng đông, Phù Tô cắn chặt môi, quyết không kêu một tiếng, sợ người ngoài nghe thấy sẽ sinh nghi.

Hề Sơn quân thấy chàng cắn môi đến tứa máu, trái tim như bị ai đó đạp lên một cách tàn nhẫn, miễn cưỡng nói: “Nếu đau cứ kêu, trống đã gõ canh một, người người ngủ say, sẽ không sao đâu.”

Mặt Phù Tô lấm tấm mồ hôi, hai mắt mở to, nhìn xà nhà trên cao phủ đầy bụi, một lúc sau, thì thào nói: “Mới canh một thôi.”

Tất cả ngón tay chàng đều co lại, siết chặt tấm đệm bên dưới, ra giường mềm nhưng không hút mồ hôi, khớp xương như vừa lấy khỏi nước, mồ hôi từ lòng bàn tay chảy hoài không dứt. Thấy chàng đau đến vậy mà cũng không một tiếng, hồi sau, bỗng thấy chàng yếu ớt mở mắt ra, yếu ớt hỏi: “Canh mấy rồi?”

Hề Sơn quân ngồi trên cái ghế đẩu trong căn phòng tối om, lẳng lặng nhìn Phù Tô, không có vẻ gì là mệt mỏi: “Canh hai.”

Trán chàng đã nổi gân xanh, khuôn mặt lãnh đạm trở nên dữ tợn, bỗng khóe môi rỉ máu tươi, tí tách tí tách, nhuộm đỏ tấm đệm.

Trái tim của Hề Sơn quân đau nhói, lập tức bóp miệng Phù Tô, nhét ngón tay trái của mình vào miệng chàng, lạnh lùng nói: “Cắn!”

Phu canh ngoài cửa thoang thả đi tới, trong đêm tối âm u gõ mỗ báo canh.

Phù Tô không cắn tay Hề Sơn quân, chỉ cầm tay còn lại, con ngươi đen kịt, giọng nói run rẩy: “Canh ba?”

Hề Sơn quân gật đầu, trong bóng đêm, nhìn gương mặt của chàng.

Nỗi thống khổ đè nén tất cả mọi tri giác, cuối cùng trong bóng đêm, Phù Tô bất lực thét lên thảm thiết. Chàng hung hăng siết chặt tay Hề Sơn quân, Hề Sơn quân đứng ngồi không yên, quay lưng về phía Phù Tô, không dám nhìn mặt chàng nữa.

Trong đêm tối, không ai nghe thấy tiếng thét thảm thương, càng chẳng có ai hiểu duyên cớ bên trong, sống lưng Hề Sơn quân đột nhiên cứng ngắc, nhìn thẳng về trước, mặc lòng bàn tay Phù Tô run rẩy lạnh như băng, mặc chàng giữ chặt tay nàng như cọng cỏ cứu mạng.

Chàng lại thét thảm thiết, đau đến tận cùng.

Khi nước mắt ướt đẫm mặt, mới hay đã khóc không thành tiếng, nàng vẫn nhất định không chịu quay đầu nhìn Phù Tô một cái.

Sáng hôm sau, nàng hỏi vì chàng nhất định phải đợi đến canh ba mới chịu kêu, lúc đó chàng thiếu niên mới đáp: “Sao lại để người khác biết ta bị đau như vậy, cho dù là thương hại hay có ý xấu thì đều không phải thứ ta cần. Vào canh ba, ngay cả những người phiền não mượn rượu giải sầu thì cũng chìm sâu vào giấc ngủ.”

Nàng lại chàng vì sao lại để nàng nhìn thấy tình cảnh thê thảm của mình như vậy, chàng thiếu niên lại tiếp: “Ta luân lạc thế này, thê thảm như vậy, nàng cũng đã biết rõ, nếu là đùa cợt hay thương hại, thì cũng vì nàng để ý ta. Nếu nàng để ý ta, thì chẳng có gì là không thỏa.”

Hề Sơn quân cười ha hả: “Hôm qua công tử kêu, trước thì giống ếch trên đồng hoang, ộp ộp ộp, sau lại như kiến trong bãi cỏ, y y y.”

Nàng thế mà lại trêu chàng.

Phù Tô chống tay nâng người dậy, áo lót trong suốt, da thịt chảy không ít mồ hôi, tỏa hơi nóng. Chàng lặng lẽ nhìn nàng một lúc, rồi nở nụ cười.

Đến Tả trấn, hỏi cửa hàng thường đổi lương thì biết đúng là có một cặp vợ chồng tới cùng mua lương, nhưng sau đó có nữ quyến Tăng thị của trưởng quan Tả trấn đi hành hương, tiểu thư Tăng gia xinh đẹp khuynh thành quốc sắc thiên hương, tất cả mọi người đều đi xem, đến khi tan rồi thì không thấy hai vợ chồng này nữa.

Hề Sơn quân nghe thế, trong lòng lập tức có suy tính. Thúy Nguyên là tên yêu quái hễ thấy gái đẹp là không chịu bỏ đi, biết rất nhiều trò mời gọi gió trăng, tám phần mười là thấy Tăng tiểu thư xinh đẹp quá, bị câu mất hồn, không đi nổi nữa, muốn dụ dỗ một phen. Tam nương độc tài đã quen, tất nhiên là không chịu để yên. Hai vợ chồng xưa nay luôn hoang đường, hiện không biết đã làm gì rồi.

Người đi đường nghị luận ầm ĩ, cả hai nước đều bị nhiễm ôn dịch, tạm thời vẫn chưa khắc chế được, hôm nay đã đóng cửa mấy thôn, hôm qua lại chết thêm mấy người, nước dãi bắn khắp nơi. Nhưng mà ôn dịch này lại không liên quan gì đến biên giới Tả trấn, Hề Sơn quân cũng yên tâm, cùng Phù Tô đến Tăng gia tìm người.

Nào ngờ chưa tới dinh phụ đã nghe thấy một tin tức không hay.

Mấy ngày vừa qua, ở Tăng gia cứ có cái tang này đến cái tang khác. Trên dưới khắp nhà, hôm trước khóc tang cụ bà, hôm kia cụ ông lại qua đời, vừa mới đóng quan tài xong xuôi cho hai ông bà thì hôm qua phu nhân không mở mắt nổi. Hôm nay vừa mới sáng ra, sờ vào thiếu gia thấy cũng đã lạnh nửa người.

Tăng lão gia khóc đến tối tăm mặt mũi, cha mẹ cùng tắt thở thì có thể nói là hỉ tang cùng về cõi tiên. Phu nhân chết thì có thể nói là sức khỏe yếu bị nhiễm phong hàn, nhưng con chết thì sao? Một thiếu niên khỏe mạnh là thế, bình thường ăn khỏe ngủ tốt chơi gái đánh bài đều ngon lành, có thể thấy là một phá gia chi tử khiến người ta ngứa răng, nhưng dù sao cũng là thằng con trai nối dõi duy nhất trong nhà, đúng là khiến người ta phải khóc đứt hết ruột gan.

Không biết rốt cuộc Tăng gia đã gây nghiệp gì, đang đoán chẳng hay người tiếp theo là mình hay con gái. Tăng lão gia tìm người để canh chừng ba tầng sân ngoài lẫn sân trong, đạo sĩ, đại phu cũng phải chuẩn bị sẵn, không rời một tấc, nhưng vẫn không kiềm được mà run lẩy bẩy.

Tăng cô nương, còn gọi là tiểu thư Hồng Chi, cũng rất kinh hoảng buồn đau, sau khi khóc lóc thảm thương mấy trận thì hành động hơi kì lạ, không chịu để cho tôi tớ tới tẩm cư của mình, ngày nào cũng ngồi trong các thêu rồi lẩm bẩm một mình, đạo sĩ tới làm phép mấy lần vẫn không hiểu được.

Hề Sơn quân và Phù Tô tìm một nhà dân ở gần đó để trọ.

Ngày hôm sau, nghe nói Tăng lão gia bị mắc bệnh không biết nguyên nhân, Hề Sơn quân nhíu mày nói: “Tam nương đúng là tùy hứng quá.”

Phù Tô hỏi: “Sơn quân cảm thấy những người này chết là do Tam nương gây ra à?”

Hề Sơn quân thở dài: “Tam nương cái gì cũng tốt, mỗi tội tính tình đanh đá độc tài, mắt không lưu được hạt cát.”

Phù Tô đoán: “Hay là tổ phụ Thúy Nguyên đã có gì với Tăng gia cô nương rồi?”

“Chỉ sợ không phải có gì thôi mà do Thúy Nguyên đã động chân tình, nồng nhiệt nói chuyện yêu đương thắm thiết với cô nương kia rồi.”

“Vì sao lại bảo là động chân tình?”

Hề Sơn quân bất đắc dĩ hớp một ngụm trà, nhìn không khí Tăng phủ trầm lắng, nắng chiều soi bóng xuống cánh cửa đỏ, nói: “Thúy Nguyên quá đa tình, gặp cô nương mình ngưỡng mộ, thì lập tức si mê. Nhưng chỉ thế thôi, qua mấy ngày sau thì sẽ không còn chút tình ý. Đánh chửi cũng làm hết rồi mà cái tật xấu vẫn không hề thay đổi, vì thế mà nên cơ sụ này.”

Phù Tô mỉm cười: “Một khi đã vậy thì Tam nương cần gì phải lo nữa? Cuối cùng rồi cũng về nhà thôi.”

Hề Sơn quân cười lạnh nói: “Đanh đá thế vậy mà gặp Thúy Nguyên cũng đành bó tay, toàn bộ sức lực cả đời này, ngoại trừ sinh con thì còn lại, cho dù trước khi chết chỉ còn một hơi thở cũng muốn dùng để chia rẽ Thúy Nguyên và người con gái khác.”

Phù Tô cảm thấy khó hiểu: “Yêu không biết hại người, giết phàm nhân sẽ có báo ứng ư? Lúc trước Sơn quân có nói mình đã giết người cướp tiền nên chịu báo ứng, Tam nương không sợ à?”

Hề Sơn quân nhổ toẹt, hận không rèn sắt thành thép nói: “Sao lại không biết, sao lại không có! Thói đời quỷ quái này, hễ yêu mà sử dụng thủ thuật che mắt lừa người thì sẽ bị sét đánh chứ đừng nói tới đã hại chết mấy mạng người! Chẳng phải người đàn bà đanh đá kia không biết, chẳng qua có chết cũng không hối cải mà thôi!”

Nàng vừa dứt lời thì sắc trời lập tức trở nên u ám, mây đen cuồn cuộn kéo đến, gió cuốn sấm rền, trong chớp mắt đã che phủ toàn bộ một vùng trời ở hậu viện dinh thự.

Bất ngờ, tiếng sấm vang rền, vang đến mức muốn rách màng nhĩ người.

Hề Sơn quân biến sắc, đi ra khỏi nhà dân, Phù Tô muốn đuổi theo nhưng phát hiện nàng chạy nhanh như gió, cứ vậy mà biến mất trước mặt mọi người.

Lúc Hề Sơn xốc rèm che lên thì trên lầu thêu đã cực kì ầm ĩ.

Dưới đất toàn là nước, mấy cái vại nuôi sen bể tan tành, trên lá sen còn có mấy con cá chép đang giãy chết đành đạch không ngừng. Có con mèo trên bệ cửa sổ làm rớt đôi giày vừa thêu, kêu một tiếng thật dài, há cái miệng tròn rồi tha con cá đáng thương, nhảy lướt qua chân Hề Sơn quân rồi chạy biến.

Một người cháy đen lăn cù, không còn nhìn ra bộ dạng ban đầu, chỉ còn tròng mắt đầy hận ý, xoay mòng mòng. Nhìn thấy Hề Sơn thì thở ra một hơi khói đen.

Trong tay người bị cháy đen cầm theo thanh bảo kiếm trên đỉnh còn vết cháy xém.

Mắt đối mắt nhìn Hề Sơn, hai bên đều không lên tiếng. Một hồi lâu sau, người bị sét đánh cháy đen để lộ hàm răng trắng đều như hạt bắp, mắt đỏ hoe, đau khổ nói: “Hắn không chịu đi theo ta.”

Nghe giọng nói thì biết đây là một người con gái dịu dàng ít nói. Hề Sơn quân đưa mắt nhìn qua màn trướng xộc mùi thơm, nhiễm hương dục nồng cả mũi, đến thở dài cũng lười làm.

Giường thiếu nữ lộ ra, hiện hai con uyên ương trần trụi.

Tướng mạo thì tuyệt trần, tiếc là đang run lẩy bẩy nên không có gì gọi là phong thái hay khí chất.

“Ta và Thúy lang yêu nhau thật lòng, xin tỷ tỷ thành toàn.” Con uyên ương cái đầu cài châu ngọc, khóc như hoa lê dưới mưa, ta nhìn mà thấy yêu.

“Ta giết cả nhà cô, Tăng cô nương, vì một người đàn ông mà cô hại chết cả nhà, sao cô còn dám nói yêu thương thật lòng với phu quân ta?” Người bị sét đánh cháy đen tựa như không thể tin, đánh một chưởng vào bình phong thêu bằng lụa, cảnh non sông gấm vóc lập tức bị mưa rơi gió thổi đánh tan, tan nát thành từng sợi.

“Ta thích Thúy lang, đến chết cũng không đổi!” Con uyên ương cái si mê nhìn uyên ương đực, sóng mắt đưa đẩy, đong đầy tình cảm.

“Chàng thì sao?” Người con gái nay không còn nhìn ra bộ dáng ban đầu, giọng nói dịu dàng tha thiết nhìn con uyên ương đực đầy vẻ tiên khí.

Con uyên ương đực đúng là có vẻ tiên nhân, nhưng trông khiếp đảm như thịt non trong vỏ trai gặp phải thấy chim cò, bị người cháy đen hung ác nhìn thấy thì òa khóc, chắc nước mắt không đáng giá nên cứ chảy tồ tồ. Y nức nở nói: “Nương tử, ta sai rồi, ta biết ta sai rồi.”

Uyên ương được là tổ phụ Thúy Nguyên, còn người bị sét đánh là tổ mẫu Tam nương.

Tam nương nghe thấy thế thì sắc mặt cũng hòa hoãn, dịu dàng hỏi: “Biết sai rồi thì có sửa hay không?”

Thúy Nguyên khóc lóc thảm thiết, nước mũi cũng chảy ra. Nhưng cho dù vậy thì vẫn trông như vị tiên hàng thật giá thật, y nức nở nói: “Nhưng ta thật lòng thích Tăng cô nương, thích thì chính là thích, sao mà sửa được?”

Tam nương xăn tay áo, thánh thót nghiến răng nghiến lợi nói: “Còn ta thì sao, chàng có thích ta không?”

Thúy Nguyên khóc đến đứt ruột đứt gan, khóc như chết cha chết mẹ, “Thích, ta thích nương tử.”

Nói xong, đôi mắt xinh đẹp tỏ ra khó xử nhìn Tăng cô nương đang ôm bên cạnh, tiên khí lay lay, nhưng giọng càng ngày càng nhỏ: “Đều thích.”

“Thúy lang!” Mắt Tăng cô nương sáng long lanh, cực kì hưởng thụ và cảm động.

Tam nương lùi về sau một bước, dùng mu bàn tay lau nước mắt, mãi lâu sau mới đỏ mắt, lấy kiếm chỉ hai người, “Gian phu dâm phụ! Ta sẽ giết ả, rạch mặt ả xem chàng còn thích ả nữa hay không!”

Thúy Nguyên nước mắt lã chã, thút thít nói: “Cho dù nàng bị hủy dung, có chết đi thì ta vẫn thích nàng ấy, nước đổ đi không thể hốt lại. Nếu nàng ấy chết đi, tim ta sẽ đau như đao cắt, chẳng bằng nương tử cũng chém ta luôn đi.”

Tăng cô nương kia cũng thê thảm mà rằng: “Phu nhân, cô đã giết cha mẹ huynh trưởng ta, không muốn hai chúng ta ở bên nhau, vậy cần gì phải để ta và Thúy lang cùng giãy dụa ở trần gian này, chúng ta nguyện ý cùng chết dưới kiếm phu nhân để tạ tội!”

“Ngươi câm miệng!” Tam nương khô miệng đỏ bừng mặt, tỏ ra lúng túng không nói lại nàng ta.

“Còn chàng thì sao! Nếu… nếu giữa ta và ả, chàng chỉ được chọn một thì chàng sẽ chọn ai?” Mũi kiếm đâm tới cổ họng Thúy Nguyên.

Thúy Nguyên nhìn Tam nương một lúc lâu, nhắm mắt, rưng rưng nói, “Trước đây là nàng, nay gặp Tăng cô nương, thì là nàng ấy.”

“Tam nương”, Hề Sơn vẫn luôn lặng lẽ nhìn trò hề của ba người, nay cuối cùng cũng lên tiếng cắt ngang tình huống khó xử, “Đừng vội hỏi lại.”

“Từ nhỏ tới giờ Thúy Nguyên luôn đa tình, si mê như vậy, gần như là ngu ngốc, cũng giống như mắc bệnh, ngươi nhịn một chút đi, tạm thời theo ta về trước đã nhé?” Hề Sơn nhìn thần sắc Tam nương bất định, cơ mặt rúm ró, lại tiếp, “Mấy người trong phủ vẫn chưa qua thất đầu, sắp tới quỷ sai sẽ tới câu hồn, bây giờ cứ để tính mạng cả nhà này lại, tránh Phụ tắc đuổi chém cô.”

Tương truyền, Phụ tắc là một loại thiên ngư, cầm lôi chùy trong tay, bơi lội trong mây để tuần tra, chuyên chém những kẻ không theo chính đạo trên thế gian.

Tam nương cúi đầu, hồi lâu sau mới hỏi: “Sơn quân, nếu khi đó Nhị lang cưới cô gái kia, người sẽ làm thế nào?”

Hề Sơn quân nở nụ cười, “Nếu huynh ấy cưới cô ta, chẳng phải ta sẽ mừng như điên? Nếu huynh ấy chỉ là gã tục phu, chỉ trọng nữ sắc, chẳng phải ta sẽ mừng như điên? Nếu có ngày huynh ấy cũng lệ rơi đầy mặt, chẳng phải ta sẽ càng mừng như điên?”

Tam nương thấp giọng nói: “Ta và Sơn quân không giống nhau. Nếu người ta yêu cũng yêu ta, thì chỉ được yêu một mình ta. Cho dù chàng thích người con gái khác dù chỉ một ngày thôi, ta chắc chắn cũng sẽ khiến chàng không được dễ chịu. Chàng không thể chỉ yêu ta nhất, càng không thể chỉ yêu ta nhạt nhòa. Yêu nhất thì còn có thứ yêu nhì, yêu ta nhạt nhòa thì sẽ dành tình cảm đậm sâu cho ai? Chàng chỉ được yêu ta.”

Nói xong, bàn tay nám đen móc vài viên ngọc từ trong lồng ngực ra, ra vẻ hung dữ muốn bóp. Mắt Hề Sơn quân sa sầm, giữ cổ tay chị, “Ngươi đừng hồ đồ, bóp nát hồn mấy người này thì sẽ gặp báo ứng đấy!”

Chị hung dữ nhìn cô gái họ Tăng và Thúy Nguyên, “Ả tiện nhân này không biết liêm sỉ, vì người yêu mà chấp nhận vứt bỏ trung hiếu lễ nghĩa, uổng phí được làm người, đến cả yêu tộc chúng ta cũng không bằng. Nếu hôm nay không để cha mẹ huynh đệ chết vì ả, để khi tuổi thọ dứt ả sẽ bị đày vào súc sinh đạo vĩnh viễn, thì sau này ta bị sét đánh, sao có thể cam tâm tình nguyện?”

***

“Sau đó thì sao?” Phù Tô nghe tới đây, bình trà đang đặt trên bếp đỏ lập tức sôi lên. Phù Tô nhấc ấm xuống, tráng tách, cười nhạt hỏi.

Hề Sơn quân uống xong vài chén trà, uể oải nói: “Chàng đoán xem.”

Phù Tô suy nghĩ, nói: “Ồ, Tam nương sẽ biến thành đá.”

Hề Sơn quân phun ngụm trà ra, “Sao chàng biết?”

***

Tam nương dứt lời, miệng lẩm bẩm, hung ác nhìn đôi dã uyên ương một lúc lâu, khiến cho Thúy Nguyên sợ đến mức mồ hôi và nước mắt thi nhau túa ra, trong nháy mắt, chị lại… biến thành đá.

Một tảng đá bị cháy đen.

Phù Tô lạnh nhạt nói: “Tam nương cứ dây dưa đau khổ như thế, giết hết mọi người, nhưng lại cứ nhất định không chịu giết chồng mình và ả ta, rõ ràng là vì không giết được Thúy Nguyên cũng không chịu giết Tăng cô nương khiến hắn yêu thương, nếu đã vậy, thì còn có thể làm gì nữa? Nếu bảo bỏ Thúy Nguyên nhìn hai người họ vui vẻ bên nhau thì chắc chắn chị không chịu, còn với bệnh phong lưu của Thúy Nguyên thì chắc chắn trong thời gian ngắn sẽ không chịu cắt đứt với Tăng cô nương kia, chị ta chỉ còn cách bịt tai nhắm mắt, không nghe không nhìn, ở lì bên cạnh Thúy Nguyên, chờ y hồi tâm chuyển ý.”

Hề Sơn quân hơi ngạc nhiên, cũng tỏ ra tán thưởng nói: “Chàng còn trẻ, nhưng lại sáng suốt thế sao.”

“Sau đó thì sao? Sau đó ngươi quay lại à?”

“Ta không đưa chị ta đi cùng, chỉ đành tìm người có thể mang chị ta đi.”

Tăng gia chết liên tục năm người, đang trời quang sáng sủa thì lại gặp sét đánh, các tôi tớ đều thấy là do tà môn, cực kì hoảng hốt, cầm bao đồ thi nhau chạy trốn. Lúc Phù Tô và Hề Sơn quân cùng tới phủ thì thấy, một căn dinh thự to như vậy nay trống không, chỉ còn mấy đạo sĩ cuốn hạt châu chạy ra ngoài, ngay cả đội thị vệ cũng không biết phải làm gì.

Ngoài sảnh chính đặt năm quan tài, xếp từ lớn tới nhỏ theo thứ tự, mặt thi thể nào cũng trắng bệch.

Khuê các được ẩn trong nơi lầu son gác tía, mặt trời lặn, ánh chiều tà chiếu xuống con đường mòn lẻ loi, trông cô quạnh biết bao.

Hề Sơn quân xuyên cửa mà vào, chậm rãi bước lên lầu các, đẩy một cánh cửa gãy trong sương phòng ra.

Không biết Thúy Nguyên và Tăng Hồng Chi đi đâu rồi.

Trong phòng trống không, bức thêu uyên ương nghịch nước vẫn chưa hoàn thành, chặn giấy đè, gió thổi qua, trông vân nước như lan ra.

Trông Hề Sơn quân như quỷ bị lao, nhìn tảng đá không ngũ quan không cảm xúc, nó hài hước đến nực cười, lười mình dối người, cứ như vậy mà ở trong khuê các người ta, cứ cố chấp trầm mặc mãi như thế.

“Xem ta mang ai tới này?” Trong ánh chiều tà, Hề Sơn quân mỉm cười.

Phù Tô chân đá chân xiêu bị nàng ké tới, phủi tro bụi bám trên áo bào trắng, chắp tay thi lễ, ngọc quan lạnh lẽo, tóc đen phất phơ, rũ xuống giữa ngực, “Tô mạo muội tới, xin đại mẫu cho gặp.”

Mãi hồi lâu mà tảng đá kia vẫn không có động tĩnh. Phù Tô nhìn qua Hề Sơn quân, nàng vừa nhấc cằm, Phù Tô xoay người thì trên tảng đá xanh đen rỉ một lớp nước.

“Chị ta khóc ư?” Phù Tô khó hiểu.

Hề Sơn quân đi tới tảng đá, vươn tay, tảng đá kia nứt thành một đường, hé ra một cái miệng, ngoan ngoãn phun năm viên châu đan đỏ như lửa.

Hề Sơn quân cười tủm tỉm nhìn tảng đá, thong thả nói: “Ta đoán, không phải chị ta khóc, mà là sợ đến vãi ra quần.”

Chớp mắt, tảng đá to màu đen lập tức biến thành viên ngọc trắng sáng bóng lóng lánh, không hề tì vết, bề mặt không chút tì vết lại xuất hiện một vết đỏ sậm rất lớn, bốn mươi sợi tơ màu xanh ngọc tách biệt nhau rũ xuống, cầm trong lòng bàn tay, rất vừa.

Nàng cất bạch ngọc vào trong vạt áo, nhét năm viên châu vào miệng năm thi thể, không bao lâu thì năm người đều có hơi thở, sắc mặt từ từ trở nên hồng hào.

Nàng và Phù Tô cùng rời đi, trong vòng hai ngày thì ra khỏi Tả trấn, bay qua khoảng hai, ba ngọn núi thì đã nhanh chóng thấy được địa hạt Hề Sơn, sau đó nhìn thấy trên hàng cây rũ bóng ven đường, có con khỉ màu xanh phỉ thúy đang treo mình, trông bộ dạng thì như một con khỉ bình thường, thế nhưng không biết sao lại cảm thấy đây chính là con khỉ đầu đàn có thể cưỡng chế những con khỉ khác trên thế gian, phấp phới tiên khí.

Khỉ trông thấy Hề Sơn quân thì nhảy từ trên cây xuống, lao vào lồng ngực nàng.

Hề Sơn quân bẻ gãy một cành liễu, hung dữ đánh vào con khỉ kia một cái, cười lạnh nói: “Sao rồi, chán tiểu mỹ nhân tựa như tiên giáng trần kia rồi, nhớ tới nhà rồi à?”

Con khỉ bị đánh đến túa máu, con mắt long lanh ánh nước nhìn Hề Sơn quân xin tha thứ, không dám kêu đau.

“Tăng tiểu thư đâu? Ngươi có phá hỏng thân thể thị không?”

Con khỉ kêu ư ử, liên tục lắc đầu.

“Thị về nhà rồi à?”

Con khỉ gật gật đầu.

“Hôm trước vừa thề non hẹn biển cơ sao, sao thị lại chịu chứ?” Hề Sơn quân châm chọc hỏi.

Con khỉ lắc mình một cái, lại biến trở về thành một thiếu niên da trắng đẹp đẽ như tiên, cúi đầu, lí nhí như ruồi muỗi vo ve, có mấy tiếng không nghe được, “Ta không thích nàng ta nữa thì cứ biến thành thế này luôn.”

Cho dù cô nương si tình đến mức nào nhưng nhìn thấy người trong lòng phong độ vậy lại bỗng dưng biến thành con khỉ lông xanh thì cũng sẽ sợ đến mức thét lên rồi té xỉu, Tăng cô nương chưa nhũn chân, có thể chạy trốn nhanh như vậy thì có thể thấy sự thâm tình đến mức thề nguyền sống chết giữa người với người cũng chỉ tới đó mà thôi.

“Thú vị không?” Hề Sơn quân lại hung hăng lấy cành liễu quất vào thiếu niên mặc thúy y.

Thiêu niên lã chã khóc, nói: “Không thú vị. Người và yêu ở bên nhau sẽ như lời đạo sĩ nói, không có kết cục gì tốt cả.”

Hề Sơn quân mím chặt môi, âm tình bất định, hồi lâu sau mới ném cành liễu xuống: “Ta không muốn nhìn thấy bản mặt ngươi nữa.”

Thúy Nguyên tủi thân, sau đó lại lắc mình biến thành một con khỉ nhỏ, nhảy lên vai Hề Sơn quân.

Phù Tô luôn trầm mặc không nói, mặt trời giữa trưa chiếu xuống bộ lông màu xanh phỉ thúy trên người, trên cổ nó có vật gì lấp lánh.

Hề Sơn quân đứa mắt nhìn qua, đánh xuống đầu Thúy Nguyên cái nữa, “Bao giờ mới bỏ cái tật thó đồ này, dù gì cũng đã tu đạo lâu như vậy rồi còn gì.”

Thúy Nguyên oan ức giơ vuốt ôm đầu, biết mình đuối lí, càng không chịu nói tiếng nào.

Phù Tô chăm chú nhìn kĩ, món đồ kia chính là viên ngọc trắng do Tam nương hóa thành. Óng ánh trơn nhẵn, ấm áp yên tĩnh.

Tộc nhân Thúy thị, đều giỏi trộm cắp, tổ phụ Thúy Nguyên, nhân tài kiệt xuất.

Đây là lần đầu tiên Phù Tô nhìn thấy cả tòa Hề Sơn lúc tỉnh táo, mới hiểu thì ra nó cao thế này. Nhưng cao như vậy, ở trong quầng núi hùng vĩ này thì chỉ là một thằng lùn trong đám người thôi.

“Vì sao núi này được gọi là Hề Sơn?” Phù Tô hỏi, “Ta từng đọc ‘Quần sơn sách’, cũng xem qua hơn mười tấm bản đồ lớn của đại Chiêu, chưa từng thấy núi nào tên Hề Sơn cả.”

Hề Sơn quân mỉm cười, “Công tử nhắm mắt lại đi.”

Phù Tô gật đầu, cảm thấy được người nọ nắm tay, bước đi trong gió, mũi cảm nhận sương mù phả tới, khi mở mắt ra thì đã tới căn phòng đá ở sườn núi.

Nàng buông tay chàng ra, áo tang thấm sương sớm trên cỏ nên hơi ẩm ướt.

“Lúc nhỏ ta không thích đọc sách, ghét vì sách nặng quá, mà cũng không thích đàn, ghét vì tiếng đàn buồn. Ca ca hỏi ta muốn làm gì, ta bảo muốn nhìn người.”

Phù Tô cười nhẹ, áo xanh tay áo trắng, nghiêng người hỏi nàng: “Vì sao lại thích nhìn người?”

Hề Sơn quân hơi ngẩn ra, lại tiếp: “Ta nói với ca ca thế này, phải nhìn nhiều người, mói biết cái vài người vì sao trông đáng sợ, có vài người tại sao trông lại đáng yêu. Sách không hiểu đọc đi đọc lại rồi sẽ hiểu, cầm phổ đọc không hiểu mà luyện nhiều thì rồi cũng sẽ có ngày nhắm mắt vẫn đàn được. Người cũng thế, nhìn nhiều rồi sẽ hiểu được thôi.”

“Vậy Sơn quân ở trên núi ba trăm năm nay, có nhìn rõ được người chưa?”

Hề Sơn quân đảo tròng mắt nói: “Ta làm sơn tặc, nhắm mắt nhắm mũi giết người, nhìn thấy bọn họ dùng cả trăm thủ đoạn cầu sống, giãy dụa trong tuyệt vọng, sao lại không rõ? Nhưng mà khi đó, những con người đáng yêu lại trở nên đáng sợ, những kẻ đáng sợ lại thành yếu đuối.”

Phù Tô hơi ngạc nhiên, chỉ mang vẻ không mặn không nhạt, giọng điệu thỏa đáng: “Ngươi vốn đã sai từ đầu.”

“Vì sao?”

“Ngươi dùng ác ý để dò xét chí ác thế gian thì làm sao có thiện quả? Ngươi không biết sẽ nhận phải kết quả thế này, có thể thấy Sơn quân đã uổng phí công sức ba trăm năm rồi. Ngươi không hiểu được lòng người, đến bây giờ vẫn ngây thơ như thế.” Phù Tô hẵng còn trẻ phê bình lão yêu tinh đã sống hơn ba trăm năm, khuôn mặt bình tĩnh quang minh mang theo vài phần cay độc, khiến người ta không cảm nhận được rõ mùi vị gì.

Nàng tựa như không nghe thấy, đã chìm vào suy tư riêng, “Những chuyện ấy nói cũng xa rồi. Ngày đó ca ca nghe ta nói vậy xong, liền bảo…”

Hề giả làm nô, thương ta Hề nhi, tù ngục trong khuê các, chẳng được thấy núi sông, nhìn thói đời trăm ngả.”

Hề Sơn quân ngồi trên chiếu, có con sông trong vắt lượn quan ở bên. Nàng nở nụ cười, đôi mắt như những ngôi sao được nàng đánh bóng trong ngày đông, có thể chiếu sáng cho nhân gian, “Công tử thông tuệ. Ca ca cũng nói như thế, huynh ấy tặng ta nhã hào Hề Sơn quân, sau ta tới núi hoang này, có Hề Sơn quân, mới có tên Hề Sơn này.”

Phù Tô khom người, quay về phía nàng, nhàn nhạt nói: “Chắc là ca ca Sơn quân không yêu Sơn quân lắm.”

“Vì sao?”

“Nếu ta là ca ca Sơn quân, chắc chắn sẽ hung dữ trách cứ Sơn quân một chút, sau đó phạt Sơn quân chép hơn một ngàn bản ‘Nữ quy’ , để ngươi triệt bỏ hoàn toàn những ý niệm này.”

“Vì sao? Ban thưởng tên Hề Sơn quân cho ta mà lại là không thương ta ư?”

“Cuộc sống của Nữ tử ở Đại Chiêu vốn không dễ dàng, mọi hành vi cử chỉ đều bị nhìn chằm chằm, động một tí là phạm lỗi. Những cô gái may mắn, lúc chưa xuất giá đều được cha mẹ huynh trưởng bảo vệ, sau khi xuất giá được vui vầy hạnh phúc, còn nếu phản nghịch thì sẽ phải chịu khổ nhiều. Nếu không diệt cái sự phản nghịch của ngươi, sự kiêu ngạo, phóng túng, dục vọng đó tăng lên từng ngày, như thế mà yêu ngươi? Đó chẳng qua là hại ngươi thôi. Nữ nhi trước nay đúng là có thể được ghi vào sử sách, nhưng đều vận số long đong, sau cái oanh oanh liệt liệt đó là nỗi cô đơn dài dằng dặc. Nếu ta có một muội muội, sao có thể nỡ để nàng phải sống đầu đường xó chợ, cứ thà để con bé không được ai biết đến. Dù có ngày được vinh dự xướng tên, cũng là vì trong nhà nữ nhân đó có cha hoặc anh trai ra chiến trường cứu quân hộ nước, trị lũ lụt giúp đỡ vạn dân, giúp nàng có được cái danh trinh phụ cáo mệnh. Vì sao lại thoái thác trách nhiệm, toàn bộ vinh nhục đều trói buộc trên một người con gái?”

“Vậy… vậy nếu đánh một trận, sau đó chép phạt một ngàn lần, rồi tặng tên này thì có nghĩa là gì?”

“Là vì huynh ấy đang cân nhắc, rốt cuộc nên nuôi ngươi thành một cô nương thế nào?”

***

Đêm xuống đầu Phù Tô lại đau. Buổi tối Hề Sơn quân xử lý chính vụ bị đình trệ nên cực kì mệt mỏi, nhanh chóng chìm vào giấc ngủ thật say.

Chàng và nàng là hôn phu hôn thê, thế nhưng lại vượt quá bổn phận, nằm chung trên một cái giường hẹp.

Giữa chàng và nàng là hai tảng đá Hai Nhăm, Hai Sáu.

Cuộc sống hoang đường, chung giường với yêu thế này Phù Tô chưa bao giờ thử qua, nhưng trước khi đau đớn che lấp mọi giác quan, để tránh đánh thức Hề Sơn quân, chọc giận yêu quái bạo quân này, chàng lảo đảo đẩy cửa đá bước ra ngoài.

Đêm đó, trước khi tới đây, nghe thấy giọng nam thê lương từ xa truyền tới. Chàng ngã vào trong bụi cỏ, ôm đầu rên rỉ hồi lâu mà vẫn không có hề khá hơn như trước, chỉ đành cố gắng di dời sự chú ý của mình, cố gắng phân biệt rốt cuộc âm thanh này đang nói gì?

‘Trăng rơi khắp núi, hoa quỷ điểu tiên, kinh thành Phong Đô, phía nam (*) không người. Đánh tan hết, con đường tịch mịch; quên được chăng, năm tháng đằng đẵng. Thời sa sút, mây tía tan theo gió; khi vào thu, thân già nua ôm đau đớn ngàn năm, một tiếng khóc dài.’

(*) Nguyên gốc: Chính dương; Có nhiều nghĩa; trong đó một nghĩa chỉ tháng tư âm lịch, một nghĩa chỉ phía nam, ở đây Nguyên chọn nghĩa như trên.

Phù Tô lắng tai nghe một hồi, rốt cuộc cũng nghe hết, thì thào lặp lại.

Đánh tan đi, con đường tịch mịch; quên được chăng, năm tháng đằng đẵng.

Phù Tô chịu đựng rất lâu, ghi nhớ, mũi nghèn nghẹt, tựa như muốn đè cái đầu đang muốn nứt ra lên mảng cỏ xanh, chàng thiếu niên thở từng hơi nặng nề.

Hề Sơn quân thích nhìn người, nhưng chàng lại không thích lắm. Vì Hề Sơn quân không hiểu, nàng ngây ngơ nhưng cứ giả vờ lõi đời, sống ba trăm năm nay mà vẫn chưa nhập môn, còn chàng là một người rất thấu suốt, quá lõi đời thì lại giả vờ làm một thiếu niên áo trắng, mười mấy tuổi đã mang khuôn mặt đã dày dạn gió sương. Trên đời không thiếu những kẻ cúi đầu, đội lốt lang sói, da mặt càng dày, mồm mép càng lươn lẹo. Trong mắt đều là si oán không ngừng, tương lai mờ mịt.

***

Thúy Nguyên và Niên Thủy Quân của Trừng Giang Xích Thủy là bạn bè lâu năm, vì nịnh bợ Thần quân nên đám yêu xung quanh luôn nể mặt hắn ba phần.

Hề Sơn quân xin hắn thắp nhang cầu khấn, mời phương sĩ Điền Hách cách xa ngàn dặm tới. Bộ tộc này ở miền nam, tuy sinh ra có hình người, nhưng vóc dáng rất nhỏ, chỉ cao tầm một hai hạt đậu. Tổ tông đều là tu đạo, thích mặc đạo bào, mang khăn thu diệp. Nhưng lại có một chỗ không giống như đạo sĩ lắm, đó chính là cho dù đạo hạnh cao thì cũng không quản được miệng mình. Đây là cái tật y chang giống như Thúy Nguyên, cho dù mang vẻ tiên cốt trời sinh nhưng lại mắc bệnh háo sắc trộm cắp. Cả tộc phương sĩ Điền Hách đều rất tham ăn, cái gì ăn cũng đều thích ăn. Thông thường, yêu tộc tới xin bọn họ, chẳng qua là nhờ họ ăn giùm chút côn trùng cỏ dại trong ngày mùa. Còn bây giờ Hề Sơn tới cầu xin là vì đau đớn của căn bệnh Phù Tô.

Thủ lĩnh bọn họ mê mẩn nhìn Phù Tô đang hôn mê trên giường đá, xót xa nói: “Tiểu công tử xinh đẹp quá, sao lại không cần, mời chúng ta tới?”

Bọn họ nghĩ Hề Sơn quân mời tới để giải quyết phế vật vô dụng này.

Thúy Nguyên ghen tị nhìn khuôn mặt Phù Tô, âm trầm lộ hai cái răng nhọn, “Nếu được ăn tươi nuốt sống hắn, thì cần gì đến miệng các vị phương sĩ đây?”

Hề Sơn quân cười lạnh, Thúy Nguyên run hết cả người, dạ thưa lùi qua một bên, “Đều nghe lời Sơn quân.”

Các phương sĩ ngờ vực chắp tay, cùng kêu: “Xin Sơn quân nói rõ.”

Hề Sơn quân cười, vỗ tay một cái, lập tức có mấy thiếu niên mặt thúy y đi tới, mang theo đủ loại trái cây, nhìn cặp mắt thèm thuồng của các phương sĩ Điền Hách, nhiệt tình nói: “Không vội không vội, các phương sĩ từ xa tới đây, bản quân túng quẫn, không có gì để khoản đãi, chỉ có một chút rượu nhạt và bánh ngọt, bày tỏ lòng biết ơn.”

Các phương sĩ ngoài miệng thì nói khách sáo, khách sáo quá, nhưng sau đó thì lập tức nhào vào trong núi bánh ngọt, biển trái cây.

Qua được một nén nhang, gió cuốn mây tan, trên bàn sạch sẽ không còn một mảnh vụn, thậm chí mâm cũng bị ăn mất.

Vị thủ lãnh ợ một phái, nói: “Mấy ngày nay nước Sở đang nháo nhào vì ôn dịch, đến vỏ cây cũng bị quỷ đói ăn sạch rồi, đến ta cũng phải khốn khổ ăn bùn mấy ngày nay. Sơn quân thông hiểu như thế, có gì đề nghị, nếu chúng ta có thể có chút tác dụng ít ỏi nào, nào dám không tận lực?”

Hề Sơn quân rũ mắt nhìn bụng bọn họ tròn vo vì ăn, cười nói: “Thật ra cũng không có việc gì lớn. Công tử đang nằm trên giường là vị hôn phu chưa cưới của ta. Chàng cái gì cũng tốt, chỉ có điều trước đây bị người hạ độc thủ, trong đầu có ba cây châm. May mắn có Tước vương tương trợ, tạm giữ được mạng, chỉ là đau đớn khó nhịn, đến Đại La chân tiên cũng không chịu được, đây cũng không phải kế lâu dài. Ta đã suy nghĩ rất lâu, nay mới nhớ mà xin các phương sĩ giúp cho, ăn giúp mấy cây châm, trì hoàn nỗi đau khổ của vị hôn phu ta. Đại ân đại đức này, bản quân có gì khác hiến dâng, sẽ tuyệt không bạc đãi phương sĩ, chỉ là mong nhất định phải cẩn thận, đừng tổn thương đầu chàng.”

Thủ lĩnh cười khằng khắc quái dị nói: “Tâm kế Sơn quân sâu quá. Đầu tiên mang một bữa tiệc lên, để bọn ta được thỏa mãn, thì ra là sợ tộc nhân chúng ta không khống chế được, ăn mất đầu phu quân người.  Yên tâm yên tâm, chàng ta đẹp như vậy, ta cũng không đành.”

Hề Sơn quân chắp tay không nói, chỉ mỉm cười.

Thủ lĩnh chỉ dẫn theo hai ba phương sĩ, chui vào tai Phù Tô, đi dọc hành lang quanh co khúc chiết, đích đến là đầu của thiếu niên.

Phù Tô ngủ một giấc, mơ vài giấc không được yên bình lắm. Chốc thì nhìn thấy khuôn mẫu thân, khi lại nhìn thấy phụ thân. Có rất nhiều rắn độc mọc ra mặt mỹ nhân, liên tiếp đánh về phía mẫu thân. Thế nhưng bà vẫn mỉm cười, nhìn về phía cung điện phụ thân. Ngoài cửa sổ là bầu trời màu quýt, mây mang sắc máu. Phù Tô dùng hết toàn bộ sức lực cũng không thể tới gần mẫu thân, đành để lũ rắn kia cắn vào cổ bà, che lấp Hậu quan (*) của bà.

(*) Hậu quan: ý chỉ Mão hoàng hậu.

Một lúc sau, chàng nghe thấy giọng hát ru mình thường nghe trước khi ngủ, tiếng ru của ai nay chẳng còn nhớ nữa, nhưng mỗi buổi tối được an giấc cũng nhờ nghe âm thanh ấp áp kia.

“Con nai ăn gì, ăn ngô Chiêu ta, đi vớt bèo trôi, sương đầy bờ đông. Con nai ở đâu, giường ta đã trải, hái cỏ tranh dại, vượt hồ về đông. Con nai ca gì, như gõ như kêu, chặt hết trúc kia, che màn từ đông. Con nai sao rồi, vui như ta vui. Ta nguyện có nai, thương nai của ta, vui dài vui mãi!”

Vì sao lại dùng lương thực của mình, giường của mình, trống của mình, sự vui vẻ của mình để nuôi một con nai cơ chứ, làm sao nhờ vậy mà có thể đạt được nhiều may mắn hơn chứ? (*)

(*) Ở đây mình cho rằng chữ ‘lộc’ trong cát lộc và lộc=nai có cùng âm, nên mới sử dụng hình tượng con nai này chăng?

Phù Tô không hiểu, đến khi mở mắt ra, quả nhiên,… cũng không còn nhìn thấy con nai đó nữa.

Mà chỉ có một con yêu quái, dựa vào giường đá, thiêm thiếp ngủ.

Hề Sơn quân tặng phương sĩ Điền Hách một bộ cắt giấy, đó thứ mà nàng đã trút hết yêu lực, từ trước đến nay luôn yêu thích. Thổi một hơi, có thể biến thành xe tuấn mã kéo, có rượu ngon, người đẹp. Xe ngựa kéo có thể ngày đi ngàn dặm, nếu không có lệnh, không cần nghỉ đêm. Cho dù ngoài xe có là tình cảnh gì, bên trong lúc nào cũng là cảnh xuân tươi đẹp, tay áo thướt tha, eo thon mướt mát, như đi trên đất bằng, tựa vào tiên cảnh.

Đám người đó thích lắm, Thúy Nguyên lại rất xót. Đây là thứ mà y đã cầu xin Hề Sơn quân ban tặng rất lâu. Trước đây đã rất vất vả cầu xin, nay chớp mặt lại thấy tặng cho kẻ khác.

“Cho dù ta có sai gì, cũng không nên để bảo vật này rơi vào tay đám người lùn ăn lông ở lỗ kia chứ.” Tiên khí Thúy Nguyên phấp phới, nói năng hùng hồn.

Hề Sơn quân đang chợp mắt nghỉ trưa, mới thả lỏng được một chút thì nghe Thúy Nguyên nói câu đó, tiện tay cầm một quyển sách trên bàn ném vào mặt Thúy Nguyên, cười lạnh: “Hễ là người có liêm sỉ, xảy ra chuyện như vậy, sẽ không dám đứng trước mặt quân chủ mà hùng hồn vậy đâu. Nghe giọng của ngươi, kẻ không biết con tưởng có công trạng vượt trời gì.”

Thúy Nguyên nhớ lại gì đó, nháy mắt trở nên ủ rũ, “Tam nương không chịu gặp ta.”

Viên ngọc trắng vân đỏ trên cái cổ trắng của y mấy ngày nay vẫn luôn rất u ám.

Thúy Nguyên nhìn chằm chằm viên ngọc trắng rất lâu, miệng cong lên, mắt bắt đầu đỏ lựng, thấy nước mắt bắt đầu rơi, Hề Sơn quân quát y: “Câm miệng, không được phép khóc! Có thời gian ở đây quấn ta mà khóc thì không bằng đi cầu xin Phù Tô đi.”

Thúy Nguyên cực kì mẫn cảm với hai chữ ‘Phù Tô’, ngờ vực hỏi: “Chuyện vợ chồng chúng ta thì liên quan gì với người khác? Hắn mang khoản nợ nghiệt ngã kia tới nhà chúng ta, không biết khi nào sẽ gây ra họa lớn, mặc dù có hôn ước với Sơn quân, chẳng qua cũng vì bất mãn với Kiều công, oán khí với hoàng thất Đại Chiêu mà thôi. Sơn quân luôn thông minh, chúng ta đều biết vị phu quân của người đã qua đời nhiều năm, người không dễ dàng gì mới được tiêu dao, cớ gì lại lội vào vũng nước đục này.”

Hề Sơn quân âm trầm nhìn Thúy Nguyên một lúc lâu, khiến y phải sợ run cả người, mới gác bút nói: “Ngươi cũng biết chuyện cuộc đời ta, cũng hiểu rõ tính tình của ta, thế cũng biết ta không kiên nhẫn nhìn người khác khóc nhất. Sao, vẫn còn chưa chịu cút đi?”

***

Lâu rồi mà Phù Tô vẫn chưa thay quần áo. Chàng mắc bệnh sạch sẽ quá mức, nhưng bây giờ không thể không chịu đựng. Ngày hôm đó chàng không biết trong mộng đã xảy ra chuyện gì, khi tỉnh dậy thì ấn đỏ trên trán đã phai, đầu không còn đau nữa.

Trong căn phòng đá vẫn lạnh như băng, đẩy cánh cửa đá ra, trên lớp cỏ xanh tươi tốt bên ngoài là một bộ quần áo mới, giống như bộ bình thường chàng vẫn hay mặc, từng đường may giống y như đúc.

Chàng hơi ngạc nhiên, nhưng vẫn mang độ quần áo mới giống như cũ, rồi kinh hãi trước tình cảnh trước mặt. Bên bờ rậm rạp, một màu xanh phỉ thúy.

Phù Tô tới gần, cũng nhìn mặt nước, dòng suối trong veo, soi rõ bóng người. Ngoại trừ việc đó thì không có gì khác biệt. Mãi một lúc lâu, những thiếu niên mặc áo màu lục vẫn ngồi yên không nhúc nhích nhìn chằm chằm vào mặt nước.

“Ôi, sao hôm nay không có gió thế?” Một người hỏi.

“Ta không thích gió.” Một người khác nói.

“Có gió tốt mà. Khi đứng trong gió, nhìn ta dưới là anh tuấn nhất.”

“Không có gió mới tốt. Không gian vắng lặng thì mới thể hiện được vẻ đẹp văn tú tiềm ẩn của ta.”

“Thật ra mặc kệ nhìn lúc thì ta cũng đẹp hết.” Lại một chàng trai nhìn xuống dòng nước, cười lộ hàm răng trắng sáng, “Đẹp thế này, chẳng phải nên cảm thá tạo hóa bất công chăng.”

“Gần đây ta rất buồn.” Một thiếu niên mặc thúy y vừa hóa thành người thở dài nói.

“Sao thế?” Mấy con khỉ khác cùng hỏi.

“Trông ta khuynh quốc khuynh thành thế này, nhỡ sau này vợ ta nhặt về quá tự tin, xấu hổ mà chết thì biết phải làm sao?” Tụi thiếu niên cười ha hả, nom gian xảo đắc ý, đảo mắt, vô tình cùng mắt Phù Tô gặp nhau, lùi vào sau mấy bước, lấy tay che mắt nói, “Chói mù mắt khỉ rồi.”

Cả đám thấy Phù Tô tới, lập tức thi lễ rồi bắt đầu thở dài, không lâu sau thì thở dài hậm hực, tan tác như chim muông.

Phù Tô nhìn mặt nước, khuôn mặt của gã trong nước lạnh lẽo như tảng đá. Một lúc sau thì không nhịn được, lộ hàm răng trắng, đôi mày đen dịu dàng đột nhiên giãn ra.

Ở sau cái cây cách đó không xa, bóng ai áo vàng đang run rẩy, đánh răng lập cập vào nhau.

“Ai đang ở sau?” Phù Tô thu lại ý cười.

Áo vàng đang trốn vẫn tiếp tục run rẩy.

Phù Tô bước thật chậm tới sau cái cây, chưa đến thì đã thấy một làn khói tỏa ra từ nơi áo vàng, đến khi khói tan thì cũng không thấy người đâu nữa.

Trên bụi cỏ, là một vũng nước.

Ngày hôm đó, Phù Tô ngồi dưới tàng quýt đọc sách. Hai Nhăm thấy chàng mệt nên biến thành tảng đá, để chàng tiện đặt sách, uống trà.

Ngày hè gió mát, chỉ một lát sau, chàng hơi mệt nên dựa vào tảng đá xanh ngọc bích rồi khép mắt lim dim.

Có người rón rén đi tới gần, chàng mở một mắt nhìn xem, sau đó khép lại, bất động như núi.

Người nọ sờ vào ống tay áo của Phù Tô, so chiều dài tay áo như muốn xem có vừa không, một lúc sau, tựa hồ đã hài lòng, đang định rời đi thì bị Phù Tô nắm chặt cổ tay. Chàng thong thả mở mắt ra, hỏi: “Ngươi là ai?”

Trước mặt chàng là một cô gái áo vàng. Bộ váy của nàng sáng rực, không biết làm từ vải gì, cầm lên thì rất lạnh lẽo, như nắng ấm đi vào sông băng, chói đến nhức mắt, lạnh đến nhói tim.

Màu vàng đó ập vào mắt Phù Tô, không để chàng được ngơi nghỉ.

Chàng dời mắt đi, giọng nói lạnh nhạt: “Đừng để Cô phải hỏi lần hai.”

Chị ta chảy nước mắt lã chã, trên mặt đất lại đọng một vũng nước. Chị quỳ rạp xuống đất, dập đầu thưa: “Thần có tội, dẫu chết ngàn lần cũng không dám từ nan, chẳng còn mặt mũi gặp quân!”

Phù Tô ngẩn người, buông tay ra, lại nói, “Ngươi ngẩng đầu lên.”

Trong khoảnh khắc chị ta ngẩng đầu lên, Phù Tô cảm thấy máu huyết trong người đều sôi trào, như muốn nứt da nứt thịt chảy ra ngoài. Thế nhưng, khi nhìn khuôn mặt kia, thì huyết quản đông cứng. Chàng nhìn kĩ chị ta, tiếp: “Ngươi là ai, có tội gì?”

Cô gái mặc xiêm y màu vàng để lộ khuôn mặt dịu dàng trắng như ngọc, thế nhưng trên khuôn mặt kia lại có một đóa hồng kì dị lan từ nửa gương mặt bên này đến mép tóc.

Chị ta xấu hổ dung mạo của mình, lại gục đầu thưa: “Thần có tội, phụ chủ công.”

Phù Tô như đang suy nghĩ điều chi, đứng đậy, đưa tay kéo chị theo, giọng chàng hòa hoãn hơn một chút: “Chị là đại mẫu Tam nương mà Sơn quân hay nói đó ư, từng gặp Cô khi nào?”

Tảng đá Hai Nhăm lại biến thành khỉ, nhào vào lòng Tam nương, cười nói: “Mẹ, cuối cùng người cũng chịu đi ra rồi, cha biết sai rồi, đang rất lo lắng đó.”

Tam nương xoay người, Hề Sơn quân bước từ căn phòng đá đi ra, chỉ nhìn chị xót xa.

Chị lau nước mắt, cúi người cười bảo: “Để công tử chê cười. Thiếp có cố nhân, trông như quân vậy.”

***

Ban ngày, Phù Tô từng cố gắng tìm tiếng hát kia, nhưng cuối cùng cũng là phí công vô ích.

Ban đêm Hề Sơn quân mang một miếng thịt nướng và mấy hũ rượu tới, đưa Phù Tô đi tới vách núi.

Càng gần vách núi, ánh trăng thêm tỏ, tiếng hát càng rõ ràng.

“Sơn quân muốn đưa ta tới thăm ai ư?”

Hề Sơn quân nói: “Ta có thể mang chàng về đây là dựa vào khối sinh lễ của người này đấy.”

“Vọng Tuế Mộc?” Phù Tô suy nghĩ, trong bóng đêm, chàng quay qua Hề Sơn quân, có vẻ lúng túng, “Sơn quân, Tô có một thắc mắc, chẳng biết được hỏi chăng?”

Hề Sơn quân không hề ngơi bước, đáp, “Công tử cứ nói, đừng ngại.”

Phù Tô dừng chân, “Cô biết Sơn quân làm Quân, cũng biết Sơn quân làm Yêu, càng biết có hôn ước với quân đến nay chưa dứt,  vậy thì, vậy thì… Cô không biết, chẳng hay Sơn quân là nam tử hay là nữ tử?”

Hề Sơn quân thong thả quay đầu lại, thần bí nói: “Bản quân tất nhiên là nam tử.”

Phù Tô khựng bước, nét trẻ con ngây thơ trên mặt thêm vài phần lúng túng: “Trước nghĩ ngươi là nữ tử, ngươi đi đâu, ta đều phải đi theo để bảo vệ, đúng là ta đã khinh suất.”

Hề Sơn quân lấy tay tự kéo mí mắt mình xuống, “Ta nói mình là nữ tử hồi nào?”

Trông Phù Tô tỏ ra thất vọng hẳn, nhưng được dạy dỗ tốt, vẫn thật thà hỏi tiếp: “Hai nam tử thì sao thành hôn được? Thành hôn theo lễ nào? Hề Sơn có sách cũ nào để học theo không?”

Hề Sơn quân ngả đầu trước ngực chàng, cười đến cong thắc lưng, “Đúng là một đứa nhỏ ngây thơ biết bao! Nói đùa mà cũng biết à? Chàng muốn cưới nam tử thật à?”

Hơi bất đắc dĩ, ngón tay hơi co lại. Chàng thiếu niên tóc đen đội ngọc quan, dưới ánh trăng, gương mặt luôn lãnh đạm hờ hững bỗng có ảo giác trở nên dịu dàng hơn một chút.

Tiếng hát tắt hẳn, có giọng nói thê lương từ xa truyền tới: “Có chuyện gì mà Hề Sơn lại ngại ngùng, ra vẻ thiếu nữ thế?”

Hề Sơn quân cười, lắc tay áo tang rộng thùng thình, kéo Phù Tô mặc áo trắng đi tới trước.

“Đại ca đừng trêu, chỉ là nhất thời quên mất. Nữ tử phiền phức vậy đó.” Hề Sơn quân trả lời vậy xong, Phù Tô nhìn cảnh trước mặt, có phần ngạc nhiên.

Đây là một cây cổ thụ cao chọc trời từ trong vách đá. Giống tùng mà không phải từng, như cây nhãn mà không như nhãn. Sinh ra từ trong khe nứt, vậy mà lại tràn đầy sức sống. Dưới ánh trăng, mỗi một phiến lá đều như tỏa sáng lấp lánh, cứ như đang nhìn thấy một sức sống vô hạn trong đời.

Nó rất cao, mọc hai cặp mặt coi thường sinh linh, hàng lông mày trắng rũ xuống tàng cây. Trên thân cây cao lớn có một con trăn vằn vện, to như nắm tay người lớn, thè cái lưỡi đỏ lòm, phát tiếng khè khè phì phì. Đôi mắt tam giác trên cái đầu tám giác đó như ngâm trong độc, hung ác nhìn Phù Tô, chầm chậm di chuyển, hơi thở đầy nguy hiểm.

“Cục sườn non thượng đẳng đấy.” Cái cây kia trông như một con người bình thường, hít một hơi thật sâu, thân cây từ từ lay động, phát ra tiếng xào xạc.

“Nhìn là thấy ngon rồi.” Con trăn hung ác thè lưỡi phát tiếng khè khè, nhìn chằm chằm Phù Tô, mở miệng rít lên.

Hề Sơn quân đưa rượu thịt ra, đặt dưới tàng cây, cười nói: “Đã lâu không gặp các ca ca, vẫn nhanh nhẹn như trước.”

Con trăn lập tức chôn đầu vào trong miếng thịt luộc trắng như gạo nếp. Còn cái cây lại dùng lông mày để nhấc bầu rượu lên. Một lúc lâu sau, hai lão yêu mới thở dài nói: “Bao giờ mới được như hai trăm năm trước đây, được sung sướng ăn một bữa thịt chứ?”

Phù Tô nhớ Hề Sơn quân nói tới báo ứng, những ngày đó, có lẽ đám yêu quái điên khùng không hề kiêng kĩ này, có lẽ đã ăn không ít người.

Hề Sơn quân chỉ vào Phù Tô, nói với cái cây: “Đây chính là phu quân đổi được nhờ miếng da của huynh trưởng đấy, hôm nay dẫn chàng tới đây bái kiến các ca ca đấy.”

Phù Tô nhìn cây đại thụ rất lâu, mới biết ra nó chính là cây thần Vọng Tuế giúp tăng tuổi thọ mà trong sách nhắc tới.

Thì ra là trông thế này đây.

Điều may mắn nhất, là bên cạnh toàn những bảo vật vô giá không gì sánh bằng, xui nhẻo nhất là, những báu vật vô giá này đều mạnh hơn ngươi rất nhiều, lại còn đang sống.

Phù Tô cúi chào. Ra khỏi núi này, chàng là Thái tử trăm nước, kêu to gọi lớn, được mọi người quỳ lạy tôn kính, còn trong núi này, chàng là nhỏ nhất, lúc nào cũng phải hãnh lễ.

“Ngươi bao lớn?” Con trăn mắt tam giác nghe thế, nháy mắt bỗng trở nên hiền lành hơn, tiếng rít lúc thấp l úc cao, ôn tồn hỏi Phù Tô.

Phù Tô nói: “Tân sinh năm Tân Dậu, năm nay vừa tròn mười sáu.”

Vong Tuế mộc nở nụ cười, lá cây rung lên rơi xuống, có mấy lá rơi trên vai Phù Tô, ban đầu sáng lấp lánh, chớp mắt sau đó bỗng hóa thành tro bụi.

Nó lấy lông mày để nhấc chai rượu lên, ném cho Hề Sơn quân, nói: “Lúc đó đệ bao nhiêu?”

Hề Sơn Quân mỉm cười,“Mười sáu tuổi.”

Vong Tuế mộc nở nụ cười, “Đúng rồi, mặc bộ đồ đỏ, cực kì xinh đẹp.” Ta và lão Tam Giác đều nghĩ đệ là một cục sườn non ngon lành, nhiều năm chưa được ăn thịt, chắc chắn sẽ có một bữa no nê. Nào ngờ lại không thể ăn cơ chứ.”

Hề Sơn quân nhã nhặn uống một hớp rượu, cười nói: “Ca ca nói đùa, để phu quân ta nghe thấy, còn tưởng ta mà mặc áo đỏ là sẽ trở nên xinh đẹp đấy. Người vốn xấu xí rồi, tự dưng tạo hi vọng cho chàng làm gì? Năm đó, ta vốn có ý thảo hiền với hàng xóm, mang chút điểm tâm trong nhà cho các ca ca thưởng thức, chẳng ngờ mấy miếng điểm tâm cứng ngắc không anh được, chọc các ca ca nổi giận muốn nuốt ta.”

Lão Tam Giác gật đầu nói: “May là lúc đó trời sáng, không nuốt được đệ vào bụng, không thì chẳng kêu oan được rồi.”

Phù Tô: “Cục sườn non là sao?”

“Với  hai bọn ta, trên đời chỉ có bốn loại sinh linh, sườn non và xương cứng, có thể ăn và không thể ăn. Sườn non là thượng cấp, có thể ăn lại còn ngon, Xương cứng là dở nhất, không chỉ không ngon mà ăn vào sẽ ảnh hưởng tuổi thọ của ta nữa.” Vọng Tuế Mộc nói.

Tuổi thọ của Vọng Tuế Mộc đến từ sinh linh của thế gian, nó ăn cái gì thì tuổi thỏ thừa lại của vật đó sẽ cộng cho cây, cật chết mà tuổi tăng, đó là con đường đúng đắn của tu yêu đạo.

“Ngươi mà sợ báo ứng ư?” Phù Tô khó hiểu.

Vọng Tuế nở nụ cười, như thể vừa nghe chuyện gì hài hước lắm, “Ta chỉ sợ cô đơn, chỉ sợ bất tử.”

Vọng Tuế rũ mắt nhìn Hề Sơn quân, giọng nói mờ mịt, “Hề Sơn, đệ có sợ báo ứng không?”

Hề Sơn quân mặc áo tang, mỉm cười. “Ta và huynh trưởng là anh em một mẹ, huynh trưởng không sợ, sao ta lại sợ chi?”

Phù Tô như hiểu ngay, “Sơn quân là thụ yêu?”

Hề Sơn quân mỉm cười, “Sai rồi, công tử sai rồi.”

“Sơn quân và Vọng Tuế Thần quân là anh chị em ruột?”

“Lại sai rồi. Ba trăm năm trước bọn ta cùng kết bái ở đây, huynh ấy thọ vạn năm, ta tự nhận là đệ.” Hề Sơn quân thở dài nói.

“Sơn quân và Thần quân là anh em một mẹ?”

“Đúng rồi.”

Lần này thì đúng rồi.

Hề Sơn quân nhìn khuôn mặt hoang mang của cậu bé loài người, khẽ cười. Nếu như tất cả chỉ vì ngày này, để được nhìn thấy một công tử Phù Tô chưa trưởng thành, thì bắt đầu từ ngày này, tất cả mọi sự đều sẽ được chấm dứt.

Đêm lạnh như nước, trời cao nổi gió, quay về phía trăng, uống rượu lâu năm.

Nàng và Vọng Tuế, đều đang chờ cái kết cục đó.

5 thoughts on “[Chiêu Hề Cựu Thảo] – Chương 2

  1. Ôi. Muốn đọc được chương 2 thì phải quay về đọc lại chương 1. Mà để đọc chương 1 thì phải nghiền ngẫm hết 1 buổi tối, chương 2 lại nghiền ngẫm thêm 1 buổi tối. Chắc tới chương 3, chị lại phải đọc 3 buổi tối mới xong :)))

    Liked by 1 person

  2. Ui ui ui, bao giờ chiếc hố sâu hun hút được lấp tiếp thế cậu ơi, chờ mong mỏi mòn héo hon. Mà cậu dịch thật sự rất hay luôn, cám ơn cậu nhé!

    Like

Nói gì với mình đi (●´∀`●)

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s